21:55 EDT Thứ ba, 18/09/2018

 Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả
 

linh tây tower

Danh mục tin tức

TIN VẮN

  • Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người hợp đồng lao động ngành Hải quan
    Ngày 18/02/2013 Tổng cục trưởng Nguyễn Ngọc Túc ký quyết định số 557/QĐ-TCHQ về việc ban hành quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người hợp đồng lao động ngành Hải quan
    http://haiquancamau.gov.vn/lawsmoi/view-60-557-QD-TCHQ/

LIÊN KẾT WEBSITE

TỶ GIÁ

Tháng Chín 18, 2018, 8:50 pm
Mua Bán
AUD 16,571.86 16,853.92
CAD 17,617.85 17,971.95
CHF 23,896.64 24,376.55
DKK - 3,703.95
EUR 27,002.16 27,324.41
GBP 30,259.30 30,743.76
HKD 2,926.17 2,990.91
INR - 333.38
JPY 205.47 213.48
KRW 19.10 21.38
KWD - 79,801.31
MYR - 5,656.68
NOK - 2,896.80
RUB - 382.38
SAR - 6,436.79
SEK - 2,647.51
SGD 16,781.29 17,084.11
THB 700.39 729.60
USD 23,245.00 23,325.00
Tra cứu tỷ giá: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

THĂM DÒ Ý KIẾN

Website này có hữu ích cho bạn không?

Rất hữu ích

Hữu ích

Đáp ứng yêu cầu

global ads

Trang nhất » Tin Tức » Thông báo

Đóng góp dự thảo Luật Hải quan

Chủ nhật - 24/03/2013 22:52
Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi)
Ý kiến tham gia gửi về Cục Hải quan tỉnh Cà Mau (Phòng Nghiệp vụ) trước ngày 02/04/2013 theo địa chỉ: số 103, đường Phan Ngọc Hiển, phường 5, thành phố Cà Mau; FAX: 07803.833231;  địa chỉ email: bangtm@customs.gov.vn

 

QUỐC HỘI

Luật số: ......../2013/QH...
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
1
               Dự thảo
         Ngày 18-03-2013
 
LUẬT
 HẢI QUAN
 
            Để góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Hải quan,
 
CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH CHUNG
 
Điều 1.  Chính sách về hải quan
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2.  Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động của Hải quan.

Điều 3.  Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với:
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải;

2. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải;
3. Cơ quan hải quan, công chức hải quan;
4. Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về hải quan.

Điều 4.                         Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hàng hoá bao gồm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quí, đá quí, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan.
2. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh bao gồm tất cả động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan.
3. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi.
4. Phương tiện vận tải bao gồm phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường sông xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
5. Vật dụng trên phương tiện vận tải bao gồm tài sản sử dụng trên phương tiện vận tải; nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ hoạt động của phương tiện vận tải; lương thực, thực phẩm và các đồ dùng khác trực tiếp phục vụ sinh hoạt của người làm việc và hành khách trên phương tiện vận tải.
6. Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hoá, phương tiện vận tải.
7. Người khai hải quan bao gồm chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc người được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền trong việc thực hiện thủ tục hải quan thuộc phạm vi được uỷ quyền.
8. Xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ và xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc cơ quan hải quan xác định mã số, xác nhận xuất xứ và xác định trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật.
9. Phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc căn cứ vào đặc điểm, thành phần, cấu tạo, tính chất lý, hóa, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hóa để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo quy định của pháp luật.
10. Hồ sơ hải quan là các chứng từ phải nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan hoặc không phải xuất trình cho cơ quan hải quan khi thực hiện thông quan hàng hóa nhưng phải lưu giữ tại doanh nghiệp theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
11. Kiểm tra hải quan là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hoáphương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện.
12. Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ nhằm theo dõi, giám sát  của cơ quan hải quan để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá hoặc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hoá; bảo đảm phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của Luật này.
13. Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.
14. Giải phóng hàng là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hoá đang trong quá trình làm thủ tục thông quan nhưng đã được kiểm tra, giám sát hải quan, đã cơ bản hoàn thành thủ tục hải quan, người khai hải quan được quyền định đoạt đối với hàng hóa này với điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
15. Thông quan là việc hoàn thành các thủ tục hải quan theo quy định để hàng hóa được nhập khẩu, được xuất khẩu hoặc được đặt dưới một chế độ quản lý nghiệp vụ hải quan khác.
16. Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
17. Quản lý rủi ro là việc áp dụng có hệ thống các biện pháp, quy trình, nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quan hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực, đối tượng được xác định là rủi ro.
18. Quá cảnh là việc chuyển hàng hoá, phương tiện vận tải từ một nước qua cửa khẩu đi qua lãnh thổ Việt Nam đến một nước khác hoặc trở về nước đó.
19. Chuyển cửa khẩu là việc chuyển hàng hoá, phương tiện vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ địa điểm làm thủ tục hải quan này đến địa điểm làm thủ tục hải quan khác.
20. Tài sản di chuyển là đồ dùng, vật dụng phục vụ sinh hoạt, làm việc của cá nhân, gia đình, tổ chức được mang theo khi thôi cư trú, chấm dứt hoạt động ở Việt Nam hoặc nước ngoài.
21. Chuyển tải là việc chuyển hàng hoá từ phương tiện vận tải nhập cảnh sang phương tiện vận tải xuất cảnh để xuất khẩu hoặc từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi trong khu vực cửa khẩu, sau đó xếp lên phương tiện vận tải khác để xuất khẩu.
22.  Lãnh thổ hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, nơi Luật Hải quan được áp dụng.

Điều 5.                         Áp dụng điều ước quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế về hải quan
1. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
2. Đối với những trường hợp mà Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia chưa có quy định thì có thể áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế về hải quan, nếu việc áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Điều 6.  Hoạt động hợp tác quốc tế của Hải quan
Theo chức năng và quy định của pháp luật, trong phạm vi thẩm quyền được phân cấp, Hải quan Việt Nam có trách nhiệm:
1. Thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới và tại các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quantại các nước, vùng lãnh thổ; cử đại diện tại các tổ chức, nước, vùng lãnh thổ nêu trên theo quy định của pháp luật về cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;
2. Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện cam kết quốc tế trong lĩnh  vực hải quan;
3. Tổ chức khai thác, trao đổi thông tin và hợp tác nghiệp vụ với Hải quan các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan;
4. Cử công chức hải quan Việt Nam ra nước ngoài thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận cán bộ hải quan nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Điều 7.  Địa bàn hoạt động hải quan
Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi kiểm tra sau thông quan, địa điểm khác được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, tuyến đường vận chuyển hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan, khu vực được phép lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan và các địa bàn khác theo quy định của pháp luật.
Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải.
Tại vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát để ngăn ngừa, xử lý hành vi vi phạm pháp luật hải quan theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định cụ thể phạm vi địa bàn hoạt động hải quan.

Điều 8. Xây dựng lực lượng Hải quan
Hải quan Việt Nam được xây dựng thành một lực lượng trong sạch, vững mạnh, có trình độ chuyên môn sâu, được trang bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.

Điều 9.  Hiện đại hoá quản lý hải quan
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại; khuyến khích tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tham gia xây dựng, thực hiện giao dịch điện tử và thủ tục hải quan điện tử.
2. Chính phủ quy định cụ thể về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trao đổi số liệu điện tử, giá trị pháp lý của chứng từ điện tử phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan hải quan các cấp, cơ quan nhà nước hữu quan, tổ chức, cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử; các biện pháp khuyến khích quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 10.    Phối hợp thực hiện pháp luật hải quan
1. Cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân.
2. Cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan hải quan hoàn thành nhiệm vụ.

Điều 11.     Giám sát thi hành pháp luật hải quan
1. Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật hải quan.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải quan theo quy định của pháp luật.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan, công chức hải quan phải tuân theo pháp luật, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
 
CHƯƠNG II
NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC CỦA HẢI QUAN
 
Điều 12.     Nhiệm vụ của Hải quan
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

Điều 13.     Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hải quan
1. Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất.
2. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên.

Điều 14.     Hệ thống tổ chức Hải quan 
1. Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:
a) Tổng cục Hải quan;
b) Cục Hải quan;
c) Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.
2. Chính phủ quy định cụ thể nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của hải quan các cấp; chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải quan; hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh hải quan.

Điều 15.     Công chức, viên chức hải quan
1. Công chức, viên chức hải quan là người được tuyển dụng, đào tạo và sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
2. Công chức, viên chức hải quan phải có phẩm chất chính trị tốt, thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của pháp luật, trung thực, liêm khiết, có tính kỷ luật, thái độ văn minh, lịch sự, nghiêm chỉnh chấp hành quyết định điều động và phân công công tác.
3. Nghiêm cấm công chức, viên chức hải quan bao che, thông đồng để buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận thuế; gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan; nhận hối lộ; chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ và thực hiện các hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi.
 
CHƯƠNG  III
THỦ TỤC HẢI QUAN, CHẾ ĐỘ KIỂM TRA,
GIÁM SÁT HẢI QUAN
 
Mục 1
QUY ĐỊNH  CHUNG
 
Điều 16.   Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; vận chuyển đúng tuyến đường, qua cửa khẩu hoặc các địa điểm khác theo quy định của pháp luật.
2. Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
3. Hàng hoá được thông quan, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan.
4. Thủ tục hải quan phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật.
5. Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Điều 17.   Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
1. Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
2. Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm: thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan; đánh giá rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để đề xuất áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.

Điều 18.   Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan
1. Người khai hải quan có quyền:
a) Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và hướng dẫn làm thủ tục hải quan;
b) Đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khi có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ.
c) Xem trước hàng hoá, lấy mẫu hàng hoá dưới sự giám sát của công chức hải quan trước khi khai hải quan để bảo đảm việc khai hải quan được chính xác;
d) Đề nghị cơ quan hải quan kiểm tra lại thực tế hàng hoá đã kiểm tra, nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan hải quan trong trường hợp hàng hoá chưa được thông quan;
đ) Khiếu nại, tố cáo việc làm trái pháp luật của cơ quan hải quan, công chức hải quan;
e) Yêu cầu bồi thường thiệt hại do cơ quan hải quan, công chức hải quan gây ra theo quy định của pháp luật;
g) Sử dụng hồ sơ hải quan điện tử để thông quan hàng hoá;
h) Yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận bằng văn bản khi có yêu cầu xuất trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ theo quy định của pháp luật về hải quan.
2. Người khai hải quan có nghĩa vụ:
a) Khai hải quan và làm thủ tục hải quan theo quy định của Luật này;
b) Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin để cơ quan hải quan thực hiện xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.  
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ hải quan;
d) Thực hiện các quyết định và yêu cầu của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải theo quy định của Luật này;
đ) Lưu giữ hồ sơ hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong thời hạn 10 năm, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng từ khác có liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong thời hạn do pháp luật quy định; xuất trình hồ sơ, cung cấp thông tin, chứng từ liên quan khi cơ quan hải quan yêu cầu kiểm tra theo quy định tại các Điều 31, 80, 81 của Luật này;
e) Bố trí người phục vụ việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;
g) Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
h) Không được thực hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận thuế, đưa hối lộ hoặc các hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính.

Điều 19.    Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan
1. Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, quy trình nghiệp vụ hải quan và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Hướng dẫn người khai hải quan khi có yêu cầu.
3. Xác nhận bằng văn bản khi yêu cầu người khai hải quan xuất trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ theo quy định của pháp luật về hải quan.
4. Thực hiện theo quy định của pháp luật về việc kiểm tra, giám sát hải quan; giám sát việc mở, đóng, chuyển tải, xếp dỡ hàng hoá tại địa điểm làm thủ tục hải quan và địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan thì yêu cầu chủ hàng hoá, người chỉ huy phương tiện vận tải hoặc người được uỷ quyền thực hiện các yêu cầu để kiểm tra, khám xét hàng hoá, phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật.
5. Lấy mẫu hàng hoá với sự có mặt của người khai hải quan để cơ quan hải quan phân tích hoặc trưng cầu giám định phục vụ kiểm tra hàng hoá.
6. Theo quy định của pháp luật yêu cầu người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan đến hàng hoá, phương tiện vận tải để xác định đúng mã số, trị giá của hàng hoá phục vụ việc thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
7. Yêu cầu người chỉ huy, người điều khiển phương tiện vận tải đi đúng tuyến đường, dừng đúng nơi quy định.
8. Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 20.    Đại lý làm thủ tục hải quan
1. Đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo uỷ quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Đại lý làm thủ tục hải quan phải có đầy đủ các điều kiện sau:
a) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có ngành nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan;
b) Có nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan;
c) Đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin để thực hiện khai hải quan điện tử và các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
3.  Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật; được đào tạo về pháp luật hải quan, pháp luật khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, được cơ quan hải quan cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
4. Đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan chịu trách nhiệm thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan theo quy định tại Điều 18 Luật này và trong phạm vi được ủy quyền.
5. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan; điều kiện, thủ tục, thẩm quyền cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

Điều 21.    Thủ tục hải quan
1. Khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan phải:
a) Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan theo quy định tại Điều 24 Luật này;
b) Đưa hàng hoá, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;
c) Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan, công chức hải quan phải:
a) Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan;
b) Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;
c) Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
d) Quyết định thông quan hàng hoá, xác nhận phương tiện vận tải đã hoàn thành thủ tục hải quan.

Điều 22.    Địa điểm làm thủ tục hải quan
         1. Địa điểm làm thủ tục hải quan là nơi cơ quan hải quan tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa.
2. Địa điểm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
a) Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ điện tử theo quy định của pháp luật về một cửa quốc gia;
b) Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ giấy tại:
b.1) Trụ sở Cục Hải quan;
b.2) Trụ sở Chi cục Hải quan;
3. Địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa:
a) Địa điểm kiểm tra tập trung;
b) Địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất, công trình, nơi tổ chức hội chợ triển lãm;
c) Địa điểm kiểm tra tại các khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS);
d) Địa điểm kiểm tra chung giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan nước láng giềng tại khu vực cửa khẩu đường bộ.
Trong trường hợp cần thiết, việc kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có thể được thực hiện tại địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định.
4. Khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường bộ quốc tế, cảng nội địa, các khu kinh tế, khu công nghiệp, các khu phi thuế quan và các địa điểm khác có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, tổ chức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan và các khu vực lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng các yêu cầu kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan.

Điều 23.    Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan
1. Cơ quan hải quan tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan ngay sau khi người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan đúng quy định của pháp luật.
2. Sau khi người khai hải quan đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về việc làm thủ tục hải quan quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 21 của Luật này, thời hạn công chức hải quan hoàn thành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải được quy định như sau:
a) Việc kiểm tra hồ sơ phải hoàn thành chậm nhất 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận bộ hồ sơ hải quan;
b) Việc kiểm tra thực tế hàng hoá phải hoàn thành chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan. Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành thì thời hạn kiểm tra thực tế hàng hoá được tính từ thời điểm có kết quả kiểm tra tiêu chuẩn hàng hóa theo quy định.
Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá nhưng không quá 02 ngày làm việc.
c) Việc kiểm tra phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh phải bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách.
3. Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra và thông quan hàng hoá, người và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh ngoài giờlàm việc, ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định của pháp luật trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan.
4. Việc thông quan hàng hóa được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Luật này.

Điều 24.    Hồ sơ hải quan
1. Hồ sơ hải quan gồm:
a) Tờ khai hải quan hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan;
Bộ Tài chính quy định mẫu tờ khai hải quan, việc sử dụng tờ khai hải quan và các chứng từ thay thế tờ khai hải quan.
b) Chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan:
Ngoài tờ khai hải quan, người khai hải quan theo quy định của pháp luật có liên quan phải nộp, xuất trình các chứng từ sau:
b.1) Hóa đơn thương mại;
b.2) Chứng từ vận tải;
b.3) Hợp đồng mua bán hàng hóa;
b.4) Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật;
b.5) Các chứng từ có liên quan đối với từng mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp phải nộp chứng từ nêu tại điểm b, khoản 1, Điều này.
2. Hồ sơ hải quan là hồ sơ điện tử hoặc hồ sơ giấy. Hồ sơ điện tử phải đảm bảo tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của Luật giao dịch điện tử.
3. Hồ sơ hải quan được nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan tại trụ sở cơ quan hải quan.
4. Thời hạn nộp hồ sơ hải quan
a) Người khai hải quan phải nộp tờ khai hải quan trong thời hạn sau đây:
Hàng hóa xuất khẩu được thực hiện sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm do người khai hải quan thông báo vàchậm nhất 08 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh;
Hàng hoá nhập khẩu được thực hiện trước ngày hàng hoá đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hàng hoá đến cửa khẩu; tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đăng ký.
b) Đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan:
Trường hợp khai hải quan điện tử, khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, người khai hải quan phải nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia. Trường hợp hàng hóa được miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, người khai hải quan phải nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trong vòng 7 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan quyết định thông quan trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia.
Trường hợp khai trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình hồ sơ hải quan khi đăng ký tờ khai hải quan.
5.  Việc khai báo, kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hồ sơ hải quan điện tử thực hiện theo cơ chế một cửa quốc gia do Chính phủ quy định.

Điều 25.    Phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
1. Phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ Tài chính ban hành Danh mục mã số hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thống nhất trong toàn quốc phù hợp vớicông ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
2. Khi làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra, xác định mã số hàng hóa căn cứ vào hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra hồ sơ, kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc căn cứ kết quả phân tích, phân loại. Trong trường hợp không chấp nhậnmã số hàng hóa do người khai hải quan khai báo, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu người đó cung cấp các tài liệu liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; hoặc lấy mẫu hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu với sự chứng kiến của người khai hải quan để cơ quan hải quan sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật phân tích, phân loại và quyết định mã số đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó; nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả phân tích, phân loại của cơ quan hải quan thì có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 26.   Xác định xuất xứ hàng hoá
1. Người khai hải quan chịu trách nhiệm khai xuất xứ hàng hóa và cung cấp các chứng từ để xác định xuất xứ hàng hóa theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan hải quan xác định xuất xứ hàng hóa trên cơ sở khai báo của người khai hải quan, giấy chứng nhận xuất xứ, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có thể được phát hành bởi cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu hoặc do người sản xuất, người xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
3. Trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan tiến hành điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước sản xuất hàng hóatheo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Kết quả điều tra, xác minh xuất xứ được cơ quan hải quan sử dụng làm căn cứ để quyết định cho hưởng các ưu đãi, áp dụng các chính sách quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu.
4. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc kiểm tra, xác nhận xuất xứ hàng hóa.

Điều 27.   Xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan
1. Trước khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan cung cấp các thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan và đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu.  
2. Cơ quan hải quan căn cứ vào các quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa, xuất xứ, trị giá hải quan và các thông tin, chứng từ hoặc mẫu hàng hóa do người khai hải quan cung cấp để xác định mã số, xác nhận xuất xứ, xác định trị giá hải quan và có văn bản thông báo cho người khai hải quan kết quả xác định trước. Trong trường hợp không đủ cơ sở hoặc thông tin để xác định theo yêu cầu của người khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo cho người khai hải quan hoặc đề nghị bổ sung thêm thông tin, tài liệu.
3. Văn bản thông báo kết quả xác định trước là văn bản có giá trị sử dụng để khai hải quan và làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, tài liệu hoặc mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.
4. Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 và trình tự, thủ tục thực hiện xác định trước, thời hạn hiệu lực của văn bản xác định trước tại Điều này.

Điều 28.    Khai hải quan
1. Khai hải quan được thực hiện thống nhất theo quy định của Bộ Tài chính.
2. Người khai hải quan phải khai đầy đủ, chính xác, rõ ràng các tiêu chí thông tin tờ khai hải quan.
3. Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử. Chỉ đối với một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ người khai hải quan được khai trên tờ khai hải quan giấy.
4. Tờ khai hải quan đã đăng ký có giá trị làm thủ tục hải quan. Chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được áp dụng tại thời điểm đăng ký tờ khai.
5. Người khai hải quan có căn cứ xác định có sai sót trong việc khai hải quan thì được khai bổ sung. Việc khai bổ sung được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hoá;
b) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định thực hiện kiểm tra sau thông quan, thanh tra tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng; trừ trường hợp nội dung khai bổ sung liên quan đến chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Quá thời hạn nêu tại điểm a, b khoản này mà người khai hải quan mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan và khai bổ sung thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
6. Trong trường hợp được pháp luật quy định, người khai hải quan được nộp tờ lược khai hải quan hoặc chứng từ thương mại để thông quan và hoàn chỉnh tờ khai trong thời hạn quy định, khai một lần để xuất khẩu, nhập khẩu nhiều lần trong một thời gian nhất định đối với mặt hàng nhất định.
7. Trong quá trình làm thủ tục hải quan hoặc đã hoàn thành thủ tục hải quan, trường hợp hàng hóa vẫn chịu sự giám sát của cơ quan hải quan được thay đổi loại hình xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

Điều 29.    Đăng ký tờ khai hải quan
1. Tờ khai hải quan được đăng ký tại:
a) Đối với phương thức điện tử theo quy định của pháp luật về hệ thống một cửa quốc gia;
b) Đối với phương thức khác:
b.1) Địa điểm làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nơi hàng đến;
b.2) Địa điểm làm thủ tục hải quan nơi hàng hoá được chuyển cửa khẩu đến;
b.3) Địa điểm làm thủ tục hải quan nơi lưu giữ hàng hóa.
2. Phương thức đăng ký tờ khai:
a) Tờ khai điện tử được đăng ký theo phương thức điện tử;
b) Tờ khai giấy được đăng ký trực tiếp tại cơ quan hải quan.
3. Tờ khai hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan chấp nhận việc khai báo của người khai hải quan. Thời điểm đăng ký được ghi trên tờ khai hải quan.
Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan phải thông báo lý do bằng văn bản hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.

Điều 30.    Căn cứ, thẩm quyền quyết định kiểm tra hải quan
            Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin khác có liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận, xử lý hồ sơ hải quan quyết định kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa.

Điều 31.    Kiểm tra hồ sơ hải quan
Khi kiểm tra hồ sơ hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra tính chính xác, đầy đủ, sự phù hợp của nội dung khai hải quan với chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật.
Việc kiểm tra hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan.

Điều 32.    Kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
               1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc một trong các trường hợp sau đây được miễn kiểm tra thực tế:
a) Hàng cứu trợ khẩn cấp;
b) Hàng hoá chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh;
c) Hàng hoá thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại khoản 1 Điều này mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan phải được kiểm tra thực tế.
3. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, việc kiểm tra của cơ quan hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.
4. Hàng hoá là động vật, thực vật sống, khó bảo quản, hàng hoá đặc biệt khác được ưu tiên kiểm tra trước.
5. Việc kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do công chức hải quan thực hiện bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác với sự có mặt của người khai hải quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký hồ sơ hải quan và hàng hoá đã được đưa đến địa điểm kiểm tra.
6. Việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng thực hiện theo thỏa thuận đã ký giữa các bên.
             Chính phủ quy định cụ thể việc kiểm tra thực tế hàng hoá quy định tại Điều này.

Điều 33.   Kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong trường hợp vắng mặt người khai hải quan
1. Việc kiểm tra vắng mặt người khai hải quan do Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi lưu giữ hàng hóa quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Để bảo vệ an ninh;
b) Để bảo vệ vệ sinh, môi trường;
c) Có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
d) Quá thời hạn quy định mà người khai hải quan không đến làm thủ tục hải quan.
đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc kiểm tra vắng mặt người khai hải quan được tiến hành thông qua các hình thức:
a) Kiểm tra không xâm nhập qua máy soi;
b) Kiểm tra thông qua thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác của cơ quan hải quan;
c) Mở hàng hóa để kiểm tra trực tiếp với sự chứng kiến của đại diện cơ quan quản lý nhà nước tại các khu vực cửa khẩuđại diện doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất.

Điều 34.   Trách nhiệm kiểm tra hàng hoá, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan
1. Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.
Trường hợp theo quy định của pháp luật phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật đối với hàng hoá, phương tiện vận tải thì cơ quan hải quan căn cứ quy định của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa để thực hiện việc kiểm tra hoặc sử dụng kết quả kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu và chịu sự giám sát hải quan cho đến khi được thông quan, trừ trường hợp pháp luật cho phép đưa về các địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành.
 Người khai hải quan chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại các địa điểm nêu trên cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.
Trường hợp hàng hoá được đưa về địa điểm kiểm tra theo yêu cầu quản lý chuyên ngành thì cơ quan hải quan chịu trách nhiệm giám sát hàng hoá cho đến khi hàng hoá được thông quan.
Trường hợp hàng hóa được làm thủ tục thông quan thông qua hệ thống một cửa quốc gia thì việc thông báo, tiếp nhận và xử lý kết quả kiểm tra thực hiện theo quy định của Chính phủ về cơ chế một cửa quốc gia.
3. Chi cục trưởng Hải quan chủ trì thực hiện theo quy định về quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan nhanh chóng hàng hoá, phương tiện vận tải.
Chính phủ quy định cụ thể về trách nhiệm và quan hệ phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cửa khẩu.

Điều 35.   Giải phóng hàng
1. Đối với hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu nhưng phải xác định giá, trưng cầu giám định, phân tích, phân loại để xác định số thuế phải nộp thì được giải phóng hàng sau khi người khai hải quan đã nộp hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh số tiền thuế do cơ quan hải quan xác định.
2. Số thuế chính thức phải nộp được xác định sau khi có kết quả xác định giá, giám định, phân tích, phân loại. Thời hạn xác định số thuế chính thức phải nộp không quá 30 ngày kể từ ngày giải phóng hàng.

Điều 36.   Thông quan hàng hoá
1. Hàng hoá đã hoàn thành thủ tục hải quan, đã thực hiện nghĩa vụ thuế  hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì được thông quan.
2. Trường hợp chủ hàng hoá bị xử phạt vi phạm hành chính về hải quan bằng hình thức phạt tiền và hàng hóa đó được phép xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hoá có thể được thông quan nếu đã nộp phạt hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số tiền phải nộp để thực hiện quyết định xử phạt của cơ quan hải quan hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không, cơ quan hải quan chỉ cho phép thông quan hàng hóa khi đã xác định hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định theo quy định của pháp luật hoặc thông báo miễn kiểm tra theo quy định của pháp luật.
4. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chuyên dùng phục vụ an ninh quốc phòng, hàng hoá ưu đãi, miễn trừ ngoại giao được thông quan theo quy định tại Điều 50, Điều 57 Luật này.
 
Mục 2
CHẾ ĐỘ ƯU TIÊN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
 
Điều 37.   Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp
1. Miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.
2. Được làm thủ tục hải quan bằng tờ lược khai hoặc chứng từ thương mại; hoàn chỉnh tờ khai, bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn quy định.
3. Được ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều kiện được công nhận ưu tiên về thuế thực hiện theo pháp luật về thuế.

Điều 38.   Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên
Để được áp dụng chế độ ưu tiên, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Có quá trình tuân thủ tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế;
2. Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm đạt mức quy định;
3. Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử; có chương trình công nghệ thông tin quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp nối mạng với cơ quan hải quan;
4. Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;
5. Có hệ thống kiểm soát nội bộ đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định;
6. Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán.
7. Doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài có quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam đáp ứng các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiêu theo quy định của Luật này và thuộc quốc gia đã ký thỏa thuận về công nhận doanh nghiệp ưu tien lẫn nhau với Việt Nam.
Chính phủ quy định cụ thể chế độ, điều kiện, thủ tục công nhận, công nhận lại, tạm đình chỉ, đình chỉ, chế độ quản lý và  công nhận lẫn nhau giữa các nước đối với doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên.

Điều 39.   Quyền và trách nhiệm của cơ quan hải quan
 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xét, công nhận và tổ chức triển khai áp dụng các chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp đủ điều kiện.
2. Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

Điều 40.                 Trách nhiệm của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên
1. Định kỳ cung cấp báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính, báo cáo tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.
2. Chấp hành các quy định về kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan.
 
Mục 3
GIÁM SÁT HẢI QUAN
 
Điều 41.   Đối tượng giám sát hải quan
Đối tượng giám sát hải quan gồm:
1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
2. Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan.
Giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải thực hiện theo quy định tại Mục 7, 8 Chương III Luật này.

Điều 42.   Phương thức và thời gian giám sát hải quan
1. Giám sát hải quan được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
a) Niêm phong hải quan hoặc bằng phương tiện kỹ thuật khác;
b) Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện;
c) Kiểm tra hồ sơ hải quan, sổ sách, chứng từ liên quan đến hàng hóa, phương tiện vận tải vào, ra các khu vực tập kết, lưu giữ hàng hóa của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.
Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin khác có liên quan đối tượng giám sát, cơ quan hải quan quyết định phương thức giám sát phù hợp. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra thực tế hàng hoá.
            2. Thời gian giám sát hải quan
a) Hàng hoá nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi hàng hóa tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
b) Hàng hoá xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
c) Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

Điều 43.   Trách nhiệm của cơ quan hải quan
1. Thực hiện các phương thức giám sát phù hợp tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; đảm bảo quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
2. Áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại bảo đảm giám sát hải quan theo quy định của Luật này.
3. Hướng dẫn, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về giám sát hải quan của người khai hải quan, doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi và các bên có liên quan.
4. Kiểm tra hệ thống sổ sách, chứng từ liên quan đến hàng hóa đưa vào, đưa ra và lưu giữ tại các khu vực cảng, kho, bãi theo quy định tại Luật này.

Điều 44.   Trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải
1. Chấp hành và tạo điều kiện để cơ quan hải quan thực hiện giám sát hải quan theo quy định của pháp luật.
2. Đảm bảo nguyên trạng hàng hóa và niêm phong hải quan hoặc sử dụng hàng hóa đúng mục đích khai báo với cơ quan hải quanVận chuyển hàng hóa theo đúng tuyến đường, lộ trình, thời gian đã đăng ký và được cơ quan hải quan chấp nhận. Trường hợp hàng hóa bị mất mát, thất lạc hoặc hư hỏng, người khai hải quan phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
3. Sử dụng phương tiện vận chuyển hàng hóa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định để cơ quan hải quan áp dụng các phương tiện kỹ thuật giám sát hàng hóa.
4. Xuất trình hồ sơ và hàng hóa cho cơ quan hải quan kiểm tra khi được yêu cầu.
5. Trong trường hợp bất khả kháng mà không đảm bảo nguyên trạng hàng hóa, niêm phong hải quan hoặc không vận chuyển hàng hóa theo đúng tuyến đường, lộ trình, thời gian thì sau khi áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế và ngăn ngừa tổn thất xảy ra phải báo ngay với cơ quan hải quan nơi gần nhất hoặc cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan.

Điều 45.   Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng
1. Bố trí địa điểm để lắp đặt phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ giám sát hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan.
2. Kết nối hệ thống thông tin quản lý hàng hóa của doanh nghiệp với hệ thống thông quan điện tử của cơ quan hải quan để quản lý hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra địa bàn hoạt động hải quan.
3. Thực hiện đầy đủ chế độ quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra khu vực cảng, kho, bãi theo quy định của pháp luật và xuất trình, cung cấp cho cơ quan hải quan khi có yêu cầu.
4. Cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan hải quan trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát hàng hóa ra, vào, lưu giữ tại khu vực cảng, kho, bãi.
5. Chịu trách nhiệm bảo quản, sắp xếp, lưu giữ nguyên trạng hàng hóa trong khu vực cảng, kho, bãi theo yêu cầu giám sát, quản lý của cơ quan hải quan.
6. Chỉ cho phép vận chuyển hàng hóa ra, vào khu vực cảng, kho, bãi theo thông báo chấp nhận của cơ quan hải quan.
7. Thực hiện các quyết định của cơ quan chức năng về xử lý hàng hóa tồn đọng theo quy định của pháp luật.
 
Mục 4
 KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA
 
Điều 46.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất
1. Địa điểm làm thủ tục
Thủ tục hải quan tạm nhập và thủ tục hải quan tái xuất được thực hiện tại cơ quan hải quan quản lý cửa khẩu tạm nhập.
2. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất
 a) Hàng hóa tạm nhập phải được lưu giữ tại khu vực cửa khẩu hoặc các địa điểm chịu sự kiểm tra, giám sát hải quantheo quy định của pháp luật.
b) Hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi làm thủ tục hải quan tạm nhập đến khi tái xuất ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; người khai hải quan chịu trách nhiệm bảo quản nguyên trạng hàng hóa tạm nhập trong suốt quá trình lưu giữ tại Việt Nam.
3. Hàng hóa tạm nhập khẩu phải tái xuất trong thời hạn quy định. Hàng hoá tạm nhập khẩu mà không tái xuất khẩu nếuđược chuyển tiêu thụ nội địa phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hoá nhập khẩu; nếu thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu có điều kiện phải thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng hoá cấm nhập khẩu, nhập khẩu có điều kiện.
Chính phủ quy định cụ thể về hồ sơ hải quan, thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát, quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất.

Điều 47.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế
1. Địa điểm làm thủ tục
 Hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế phải làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế.
2. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế
a) Hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế phải được lưu giữ tại cửa hàng miễn thuế;
b) Hàng hoá nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi làm thủ tục hải quan nhập khẩu đến khi thanh khoản;
c) Bộ Tài chính quy định cụ thể hồ sơ thanh khoản, thủ tục thanh khoản hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế.

Điều 48.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu
1. Các loại hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu bao gồm:
a) Phương tiện quay vòng để chứa hàng hóa;
b) Máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp để phục vụ công việc trong thời hạn nhất định;
c) Thiết bị, máy móc, phương tiện thi công, khuôn, mẫu theo các hợp đồng thuê, mượn của thương nhân Việt Nam ký với bên nước ngoài để sản xuất, thi công;
d) Linh kiện, phụ tùng của chủ tàu nhập khẩu để phục vụ thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài;
đ)  Hàng hóa tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm;
e) Hàng hóa khác theo quy định của pháp luật.
2. Hàng hoá tạm xuất khẩu phải tái nhập khẩu, hàng hoá tạm nhập khẩu phải tái xuất khẩu trong thời hạn quy định và phải được làm thủ tục hải quan.
3. Hàng hoá tạm xuất khẩu, hàng hoá tạm nhập khẩu thuộc một tờ khai hải quan có thể được tái nhập khẩu, tái xuất khẩu theo nhiều chuyến hàng thuộc nhiều tờ khai tái nhập, tái xuất.
4. Hàng hoá tạm xuất khẩu mà không tái nhập khẩu, hàng hoá tạm nhập khẩu mà không tái xuất khẩu nếu được bán, tặng, trao đổi phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; nếu thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện phải thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện.
5. Chính phủ quy định cụ thể về hồ sơ hải quan, thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát, quản lý hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu.

Điều 49.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với quà biếu, tặng 
1. Hàng hoá là quà biếu, tặng phải được làm thủ tục hải quan; nếu thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện phải thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện.
Nghiêm cấm việc biếu, tặng hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.
2. Định mức hàng hoá là quà biếu, tặng được miễn thuế do Chính phủ quy định.

Điều 50.              Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ các yêu cầu khẩn cấp; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
1. Hàng hoá phục vụ yêu cầu khẩn cấp gồm: hàng hoá phục vụ việc khắc phục ngay các hậu quả của thiên tai, dịch bệnh hoặc hàng hoá phục vụ các yêu cầu cứu trợ khẩn cấp.
a) Hàng hoá phục vụ yêu cầu khẩn cấp phải có văn bản xác nhận của đại diện có thẩm quyền của cơ quan nhà nước.
b) Người khai hải quan được sử dụng tờ lược khai hải quan hoặc chứng từ thương mại để làm thủ tục hải quan trước khi nộp các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ lược khai hải quan, người khai hải quan phải hoàn chỉnh tờ khai hải quan và nộp các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.
2. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
a) Đối với hàng hoá chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh theo văn bản xác nhận của Bộ trưởng Bộ quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ công an: người khai hải quan được sử dụng tờ lược khai hải quan để làm thủ tục hải quan trước khi nộp các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan. Trong thời hạn 30 ngày kể từ nộp tờ lược khai hải quan, người khai hải quan phải hoàn chỉnh tờ khai hải quan và nộp các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.
b) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh phải được bảo đảm an toàn cao hoặc có yêu cầu bảo mật theo văn bản xác nhận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an được miễn khai hải quan và miễn kiểm tra thực tế.

Điều 51.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới
1. Hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới là hàng hoá phục vụ sinh hoạt, sản xuất bình thường của cư dân biên giới.
2. Việc mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới của Việt Nam với cư dân biên giới của nước có chung đường biên giới quốc gia với Việt Nam phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; nơi không có cơ quan hải quan thì chịu sự kiểm tra, giám sát của Bộ đội Biên phòng theo quy định của pháp luật.
3. Chính phủ quy định cụ thể về việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; trách nhiệm của chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; chính sách quản lý nhà nước đối với hàng hóa mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới.

Điều 52.   Hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu theo đường bưu chính, chuyển phát nhanh
1. Hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu theo đường bưu chính, chuyển phát nhanh phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định của Luật này.
2Trong trường hợp người được uỷ quyền khai hải quan là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế thì phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định của Luật này; chỉ được chuyển, phát hàng hoá sau khi được thông quan.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế được khai hàng hoá trong định mức miễn thuế của nhiều chủ hàng trên một tờ khai hải quan.
Chính phủ quy định cụ thể hồ sơ, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo đường bưu chính, chuyển phát nhanh.

Điều 53.   Kiểm tra giám sát hải quan đối với tài sản di chuyển
Cá nhân, gia đình, tổ chức có tài sản di chuyển phải có giấy tờ xác nhận quyền sở hữu tài sản đó, trừ đồ dùng, vật dụng phục vụ sinh hoạt bình thường;  phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.
 Chính phủ quy định cụ thể về chính sách quản lý nhà nước, thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với tài sản di chuyển.

Điều 54.   Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh
1. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu.
2. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh.
3. Chính phủ quy định về tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế và thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh.

Điều 55.   Ngoại tệ, tiền Việt Nam, vàng, kim khí quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh
1. Người xuất cảnh, nhập cảnh có mang theo hàng hoá là vàng, đá quý, kim khí quý phải thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ.
2. Người xuất cảnh, nhập cảnh có mang theo ngoại tệ, tiền Việt Nam
a) Người nhập cảnh có mang theo ngoại tệ, tiền Việt Nam vượt mức quy định của Ngân hàng Nhà nước phải khai hải quan tại cửa khẩu;
b) Người xuất cảnh có mang theo ngoại tệ, tiền Việt Nam, vượt mức quy định hoặc vượt số ngoại tệ đã khai hải quan khi nhập cảnh phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước;
c) Người xuất cảnh có mang theo số ngoại tệ, tiền Việt Nam vượt mức quy định nhưng không vượt quá số ngoại tệ đã khai hải quan khi nhập cảnh phải xuất trình tờ khai hải quan khi nhập cảnh, trong trường hợp này không cần phải xin phép Ngân hàng Nhà nước.

Điều 56.   Hàng hóa trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
1. Hàng hoá là vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh không phải làm thủ tục hải quan nhưng phải chịu sự  giám sát hải quan.
2. Hàng hoá mua từ phương tiện vận tải nhập cảnh phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hoá nhập khẩu.
3. Hàng hoá bán cho người làm việc và hành khách trên phương tiện vận tải xuất cảnh, quá cảnh phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hoá xuất khẩu.

Điều 57.   Hàng hóa ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
1. Chế độ ưu đãi, miễn trừ quy định tại Luật này bao gồm ưu đãi, miễn trừ về khai hải quan, kiểm tra hải quan.
2. Túi ngoại giao, túi lãnh sự được miễn khai, miễn kiểm tra hải quan.
Hành lý, phương tiện vận tải của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và hành lý, phương tiện vận tải của các đối tượng đặc biệt khác được miễn kiểm tra hải quan.
3. Khi có căn cứ để khẳng định túi ngoại giao, túi lãnh sự bị lạm dụng vào mục đích trái với điều ước quốc tế về quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc trong hành lý, phương tiện vận tải có hàng hoá thuộc danh mục hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hoá không thuộc loại được hưởng chế độ ưu đãi, miễn trừ theo quy định của pháp luật thì Tổng cục Hải quan quyết định việc xử lý theo quy định của các điều ước quốc tế đó.

Điều 58.   Xử lý hàng hoá tồn đọng
1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tồn đọng được lưu giữ tại các khu vực kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan bao gồm:
a) Hàng hóa mà chủ hàng hoá tuyên bố công khai từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ;
        b) Hàng hóa do người vận chuyển hoặc doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi lưu giữ tại Việt Nam từ bỏ quyền lưu giữtheo quy định;
        c) Hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày kể từ ngày đến cửa khẩu được cơ quan hải quan thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có người  đến nhận;
       d) Hàng hóa do doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi thu gom trong quá trình xếp dỡ hàng hóa;
       đ) Hàng hóa nhập khẩu ngoài vận đơn, lược khai không có người nhận.
2. Không chấp nhận việc chủ hàng hoá hoặc người vận chuyển từ bỏ đối với hàng hoá có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
3. Hàng hoá nêu tại điểm c khoản 1 Điều này không có người đến nhận cơ quan hải quan thực hiện thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu chủ hàng hoá đến nhận thì được làm thủ tục hải quan và bị xử phạt theo quy định; nếu không có người đến nhận thì xử lý theo quy định của tại khoản 6 Điều này; trường hợp hàng hóa thuộc diện dễ hư hỏng, hàng đông lạnh, hóa chất độc hại, nguy hiểm, hàng sắp hết hạn sử dụng thì phải xử lý kịp thời theo quy định.
4. Trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ để xác định hàng hoá tồn đọng là hàng hoá buôn lậu thì xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi có trách nhiệm bố trí địa điểm kho, bãi đáp ứng các điều kiện giám sát hải quan để lưu giữ hàng hóa tồn đọng.
6. Việc xử lý hàng tồn đọng được thực hiện theo các phương thức sau:
a) Hàng tồn đọng được cơ quan hải quan thực hiện các thủ tục hải quan trước khi bán thanh lý, tiền bán hàng được nộp vào ngân sách nhà nước sau khi trừ các khoản chi phí bán hàng. Hàng tồn đọng sau khi bán không phải làm thủ tục hải quan.
b) Hàng tồn đọng không còn giá trị sử dụng, phải tiêu hủy, thực hiện tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
7. Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện quy định ở Điều này. 
 
Mục 5
KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA
NHẬP KHẨU ĐỂ GIA CÔNG,  SẢN XUẤT HÀNG HÓA XUẤT KHẨU
 
Điều 59.   Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu
1. Hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu là nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
2. Hàng hóa nêu tại Khoản 1 Điều này chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng.
3. Chính phủ quy định cụ thể về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công sản xuất hàng xuất khẩu tại mục này.

Điều 60.   Trách nhiệm của thương nhân sản xuất hàng hóa xuất khẩu
1. Phải có cơ sở sản xuất để sản xuất hàng hóa xuất khẩu theo quy định của pháp luật.
2. Thông báo định mức sử dụng nguyên vật liệu chủ yếu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm xuất khẩu cho cơ quan hải quan.
3. Sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu vào đúng mục đích gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng thì phải làm thủ tục hải quan theo quy định của Luật này.
4. Lưu giữ nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và sản phẩm xuất khẩu trong khu vực sản xuất. Trong trường hợp lưu giữ ngoài khu vực sản xuất phải được sự đồng ý của cơ quan hải quan.
5. Thực hiện đầy đủ chế độ quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào, đưa ra cơ sở sản xuất theo quy định; xuất trình sổ sách, chứng từ, hàng hóa khi cơ quan hải quan kiểm tra.
6. Thực hiện báo cáo quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu vật tư nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu theo quy định của pháp luật.

Điều 61.   Quyền và trách nhiệm của cơ quan hải quan
1. Kiểm tra cơ sở sản xuất, năng lực sản xuất của thương nhân nhập nguyên liệu, nhiên liệu vật tư để sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
2. Kiểm tra việc sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu, kiểm tra số lượng hàng hoá tồn kho của thương nhân sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
3. Kiểm tra việc quyết toán, việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư của thương nhân nhập nhiên liệu, nguyên liệu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.
4. Việc kiểm tra nêu tại khoản 2, khoản 3 Điều này thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro quy định tại Điều 16, Điều 17 Luật này.
 
Mục 6
KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA TẠI KHO NGOẠI QUAN, KHO BẢO THUẾ,
ĐỊA ĐIỂM THU GOM HÀNG LẺ
 
Điều 62.   Kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ
1. Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi được sử dụng để lưu giữ, bảo quản hoặc thực hiện các dịch vụ đối với hàng hoá từ nước ngoài hoặc từ trong nước đưa vào kho ngoại quan trong thời hạn theo quy định.
a) Hàng hoá được gửi trong kho ngoại quan gồm: hàng hoá xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan chờ xuất khẩu; hàng hóa từ nước ngoài đưa vào kho ngoại quan để chờ xuất khẩu hoặc nhập khẩu vào Việt Nam.
b) Hàng hóa gửi kho ngoại quan được lưu giữ trong thời gian không quá 12 tháng, kể từ ngày hàng hoá được gửi vào kho; trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý bằng văn bản của Cục trưởng Cục Hải quan quản lý kho ngoại quan thì được gia hạn, nhưng tối đa không quá 6 tháng.
2. Kho bảo thuế là kho của chủ hàng dùng để chứa hàng hoá hoặc nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế.
Nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu được lưu giữ tại kho bảo thuế trong thời gian không quá 12 tháng kể từ ngày gửi vào kho trường hợp có lý do chính đáng theo yêu cầu của chu trình sản xuất kinh doanh thì được gia hạn phù hợp.
3. Địa điểm thu gom hàng lẻ là khu vực kho, bãi dùng để thực hiện các hoạt động thu gom, chia, tách hàng hoá của nhiều chủ hàng hoá được vận chuyển chung trong một container.
a) Hàng hoá được đưa vào địa điểm thu gom hàng lẻ là hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan hoặc đã đăng ký tờ khai hải quan nhưng việc kiểm tra thực tế hàng hoá được thực hiện tại địa điểm thu gom hàng lẻ.
b) Hàng hóa được lưu giữ tại địa điểm thu gom hàng lẻ trong thời hạn không quá 90 ngày, kể từ ngày được gửi vào địa điểm thu gom hàng lẻ.
4. Chính phủ quy định cụ thể hoạt động của kho ngoại quan, kho bảo thuế và địa điểm thu gom hàng lẻ.

Điều 63.   Điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ
1. Kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ được thành lập tại địa bàn nơi có các khu vực sau:
a) Cảng biển quốc tế; cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quốc tế được thành lập trong nội địa (ICD), cửa khẩu đường sắt quốc tế và đường bộ quốc tế;
b) Khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu phi thuế quan và các khu vực khác theo quy định của pháp luật.
2. Kho bảo thuế được thành lập trong khu vực nhà máy của doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
3. Chính phủ quy định cụ thể về quy hoạch hệ thống kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, thời gian hoạt động, tạm dừng, chấm dứt hoạt động của kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ.
4. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định thành lập, gia hạn thời gian hoạt động, tạm dừng và chấm dứt hoạt động kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ.

Điều 64.   Quyền và nghĩa vụ của chủ kho ngoại quan, kho bảo thuế, doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ, chủ hàng hóa
1. Chủ kho ngoại quan và chủ hàng hóa gửi kho ngoại quan
a) Chủ kho ngoại quan được thực hiện hợp đồng nhận hàng hoá gửi kho ngoại quan theo quy định của pháp luật; được di chuyển hàng hoá trong kho ngoại quan theo thoả thuận với chủ hàng.
Định kỳ hàng quý, chủ kho ngoại quan phải thông báo bằng văn bản với Cục Hải quan nơi đặt kho ngoại quan về hiện trạng hàng hoá và tình hình hoạt động của kho ngoại quan.
Chủ kho ngoại quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan hải quan về kiểm tra hàng hoá theo quy định của pháp luật.
b) Chủ hàng hóa được gia cố bao bì, phân loại hàng hoá, lấy mẫu hàng hoá dưới sự giám sát của công chức hải quan; được chuyển quyền sở hữu hàng hoá theo quy định của pháp luật. Việc chuyển hàng hoá từ kho ngoại quan này sang kho ngoại quan khác phải được sự đồng ý bằng văn bản của Cục trưởng Cục Hải quan.
Trong thời gian gửi hàng hoá tại kho ngoại quan, chủ hàng hoá phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động của kho ngoại quan.
2. Chủ kho bảo thuế
a) Lưu giữ hàng hóa là nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu của chủ kho bảo thuế.
b) Được sắp xếp, đóng gói lại, di chuyển hàng hóa trong kho bảo thuế.
c) Thông báo cho cơ quan hải quan trước khi nguyên liệu, vật tư trong kho bảo thuế đưa vào sản xuất.
d) Định kỳ hàng quý thông báo bằng văn bản với Cục Hải quan nơi đặt kho bảo thuế về hiện trạng hàng hoá và tình hình hoạt động của kho bảo thuế.
3. Chủ hàng hóa và doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ
a) Chủ hàng hóa được chuyển quyền sở hữu hàng hoá, đóng gói, đóng gói lại, gia cố, sửa chữa, bảo quản hàng hoá tại địa điểm thu gom hàng lẻ.
b) Doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ được thực hiện hoạt động chia tách, đóng ghép các lô hàng của nhiều chủ hàng được vận chuyển chung trong một container, sắp xếp, sắp xếp lại hàng hóa lưu giữ tại địa điểm thu gom hàng lẻ.
Định kỳ hàng quý doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ phải thông báo bằng văn bản với Cục Hải quan nơi đặt địa điểm thu gom hàng lẻ về hiện trạng hàng hoá và tình hình hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ.
4. Chủ kho ngoại quan, chủ kho bảo thuế, doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ có trách nhiệm thực hiện chế độ kế toán, thống kê hàng hóa theo quy định, trang thiết bị để quản lý hàng hóa bằng phương thức điện tử và nối mạng với cơ quan hải quan để thực hiện việc kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định của Luật này.
Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn và tổ chức thực hiện khoản này phù hợp với thực tế.
 
Mục 7
THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI   HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN CHỊU SỰ GIÁM SÁT HẢI QUAN
 
Điều 65.   Thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan
1. Hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan bao gồm: hàng hoá quá cảnh và hàng hoá chuyển cửa khẩu.
2. Khi đăng ký vận chuyển hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, người khai hải quan khai tờ khai vận chuyển hàng hóa; nộp hoặc xuất trình hoá đơn thương mại đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, chứng từ vận tải, xuất trình hàng hóa khi cơ quan hải quan yêu cầu theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai vận chuyển và quyết định cho phép vận chuyển hàng hóa chịu sự giám sát hải quan.
4. Chính phủ quy định cụ thể thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, bảo lãnh đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan.
Điều 66.   Tuyến đường, thời gian vận chuyển
1. Hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan phải được vận chuyển đúng tuyến đường, qua đúng cửa khẩu, đúng thời hạn.
2. Bộ Giao thông vận tải thống nhất với Bộ Tài chính quy định tuyến đường vận chuyển hàng hoá quá cảnh; tuyến đường vận chuyển hàng hóa chuyển cửa khẩu, tuyến đường vận chuyển hàng hóa tạm nhập, tái xuất qua lãnh thổ Việt Nam.
 
Mục 8
THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN
ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI
 
Điều 67.   Thông báo thông tin tàu đến cảng
 1. Người vận chuyển phải thông báo thông tin về hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và hành khách nhập cảnh, xuất cảnh trên phương tiện vận tải trước khi nhập cảnh, xuất cảnh trực tiếp cho cơ quan hải quan hoặc qua hệ thống thông tin một cửa quốc gia.
2. Chính phủ quy định cụ thể về nội dung, thủ tục, phương thức thông báo thông tin, trách nhiệm kết nối thông tin của các cơ quan có liên quan.

Điều 68.   Địa điểm làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
1. Phương tiện vận tải khi xuất cảnh, nhập cảnh phải qua cửa khẩu của Việt Nam.
Phương tiện vận tải nhập cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập đầu tiên. Phương tiện vận tải xuất cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu xuất cuối cùng.
2. Việc xuất cảnh, nhập cảnh của phương tiện vận tải qua các địa điểm khác do Chính phủ quy định.

Điều 69.   Tuyến đường, thời gian chịu sự giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
1. Phương tiện vận tải thương mại nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh
a) Phương tiện vận tải thương mại của nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải di chuyển theo đúng tuyến đường quy định, chịu sự giám sát hải quan từ khi đến địa bàn hoạt động hải quan, quá trình di chuyển cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
b) Phương tiện vận tải thương mại của Việt Nam nhập cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan cho đến khi toàn bộ hàng hóa nhập khẩu chuyên chở trên phương tiện vận tải được dỡ hết khỏi phương tiện để làm thủ tục nhập khẩu.
Phương tiện vận tải Việt Nam xuất cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu xếp hàng hóa xuất khẩu cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
2. Phương tiện vận tải nước ngoài không nhằm mục đích thương mại nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan khi làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập cảnh, xuất cảnh.
3. Khi có căn cứ để nhận định trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có cất giấu hàng hóa trái phép, có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải, Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan quyết định tạm hoãn việc khởi hành hoặc dừng phương tiện vận tải để khám xét. Việc khám xét phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 70.   Thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
1. Khi làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải phải khai hải quan; nộp, xuất trình các chứng từ vận tải để làm thủ tục hải quan; cung cấp các thông tin, chứng từ về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, vật dụng trên phương tiện vận tải.
2. Thời hạn khai hải quan
a) Đối với phương tiện vận tải quá cảnh: khai hải quan được thực hiện ngay khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên; trước khi phương tiện vận tải qua cửa khẩu xuất cuối cùng;
b) Đối với phương tiện vận tải đường biển xuất cảnh, nhập cảnh: khai hải quan được thực hiện chậm nhất 02 giờ sau khi cảng vụ thông báo phương tiện vận tải đã đến vị trí đón trả hoa tiêu; 01 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh;
c) Đối với phương tiện vận tải đường hàng không xuất cảnh, nhập cảnh: khai hải quan được thực hiện ngay khi phương tiện vận tải đến cửa khẩu và trước khi tổ chức vận tải chấm dứt việc làm thủ tục nhận hàng hoá xuất khẩu, hành khách xuất cảnh;
d) Đối với phương tiện vận tải đường sắt, đường bộ và đường sông xuất cảnh, nhập cảnh: khai hải quan được thực hiện ngay sau khi phương tiện vận tải đến cửa khẩu nhập đầu tiên; trước khi phương tiện vận tải qua cửa khẩu xuất cuối cùng để xuất cảnh.
3. Việc kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế phương tiện vận tải của công chức hải quan được thực hiện theo quy định tạiđiểm c khoản 2 Điều 23, Điều 24, Điều 28 Luật này.
Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ hải quan và thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Điều 71.   Chuyển tải sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hoá trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
Việc chuyển tải, sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hành lý trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh đang trong thời gian chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của cơ quan Hải quan.
Hàng hóa chuyển tải, sang toa, cắt toa phải được giữ nguyên trạng bao bì, thùng, kiện.

Điều 72.   Vận chuyển quốc tế kết hợp vận chuyển nội địa, vận chuyển nội địa kết hợp vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
1. Phương tiện vận tải vận chuyển quốc tế, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan do Tổng cục Hải quan quy định thì được kết hợp vận chuyển hàng hóa nội địa.
2. Phương tiện vận tải vận chuyển nội địa, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan do Tổng cục Hải quan quy định thì được kết hợp vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan.

Điều 73.   Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh vì mục đích quốc phòng, an ninh
Phương tiện vận tải quân sự, phương tiện vận tải khác được sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định của Chính phủ.

Điều 74.   Trách nhiệm phối hợp của người đứng đầu cảng vụ sân bay, cảng biển, ga đường sắt liên vận quốc tế với cơ quan hải quan 
Người đứng đầu cảng vụ sân bay, cảng biển, ga đường sắt liên vận quốc tế có trách nhiệm phối hợp các cơ quan chức năng trên địa bàn trong việc chia sẻ và xử lý thông tin liên quan đến thời gian đến và đi, địa điểm đỗ, thời gian xếp, dỡ hàng hóa lên, xuống tàu biển, tàu bay, tàu hỏa liên vận quốc tế.
 
Mục 9
TẠM DỪNG LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN
ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU, XUẤT KHẨU
CÓ YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
 
Điều 75.   Nguyên tắc tạm dừng làm thủ tục hải quan
1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị dài hạn hoặc trong từng trường hợp cụ thể để cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Cơ quan hải quan chỉ được quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 76 Luật này.
3. Các quy định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Luật này không áp dụng đối với vật phẩm không mang tính thương mại; hàng hoá quá cảnh.

Điều 76.   Điều kiện đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan
Khi đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải:
1. Gửi cho cơ quan hải quan đơn đề nghị, bằng chứng về sở hữu hợp pháp quyền sở hữu trí tuệ, bằng chứng về việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình;
2. Nộp một khoản tiền tạm ứng hoặc chứng từ bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng để bảo đảm bồi thường thiệt hại và các chi phí phát sinh theo quy định của pháp luật do đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng.

Điều 77.   Quy định cụ thể việc tạm dừng làm thủ tục hải quan
Căn cứ vào Luật này và các quy định khác của pháp luật, Chính phủ quy định cụ thể việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
 
Mục 10
KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HẢI QUAN
 
Điều 78.   Kiểm tra sau thông quan
1. Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán, các chứng từ, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan, chủ hàng đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; thẩm định việc tuân thủ của người khai hải quan, chủ hàng đối với pháp luật hải quan và các pháp luật khác liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Kiểm tra sau thông quan thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan  hoặc tại trụ sở của người khai hải quan, chủ hàng.
Trụ sở người khai hải quan, chủ hàng bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, cửa hàng, nơi sản xuất, nơi lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
3. Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 10 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan.

Điều 79.   Các trường hợp kiểm tra sau thông quan
1. Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quanpháp luật khác liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro, thông tin từ trinh sát hải quan, từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Điều 80.   Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan
1. Khi kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan thực hiện ban hành quyết định kiểm tra gửi cho người khai hải quan trước ba ngày làm việc; được yêu cầu người khai hải quan, chủ hàng cung cấp hồ sơ, chứng từ liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và giải trình những nội dung liên quan. Thời gian kiểm tra tối đa là hai ngày làm việc, kết thúc kiểm tra, cơ quan hải quan phải thông báo kết quả kiểm tra bằng văn bản cho người khai hải quan, chủ hàng.
2. Trường hợp người khai hải quan, chủ hàng không giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu hoặc từ chối, hoặc trì hoãn, kéo dài quá thời hạn quy định việc cung cấp các tài liệu liên quan cho cơ quan hải quan hoặc đã giải trình, cung cấp nhưng cơ quan hải quan có đủ căn cứ kết luận thì cơ quan hải quan ban hành các quyết định hành chính theo quy định của pháp luật hoặc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng.
3. Trường hợp người khai hải quan, chủ hàng đồng ý với kết quả kiểm tra thì thực hiện khai bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật này.

Điều 81.   Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng
1. Thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng
a) Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;
b) Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan.
c) Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan.
2. Thời hạn kiểm tra
a) Thời hạn kiểm tra của mỗi quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng tối đa là 15 ngày làm việc; trừ trường hợp kiểm tra để đánh giá sự tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, chủ hàng thì thời hạn kiểm tra tối đa là 30 ngày làm việc.
b) Trường hợp phức tạp người quyết định kiểm tra gia hạn một lần, thời gian gia hạn kiểm tra không quá thời hạn quy định tại điểm a khoản này. Thời gian gia hạn, lý do gia hạn được thông báo bằng văn bản.
c) Quyết định kiểm tra sau thông quan phải được gửi cho người khai hải quan, chủ hàng trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày ký và chậm nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra quy định tại khoản1 Điều 79 Luật này.

Điều 82.   Quyền và trách nhiệm của cơ quan hải quan khi kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng
1. Khi quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan có quyền và trách nhiệm:
a) Ban hành quyết định kiểm tra, thành lập đoàn kiểm tra;
b) Gia hạn thời hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;
c) Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử lý vi phạm hành chính;
 đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi hành chính, quyết định hành chính của cấp dưới.
2. Trưởng đoàn kiểm tra có các quyền và trách nhiệm sau đây:
a) Yêu cầu người khai hải quan, chủ hàng cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra; kiểm tra hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện;
b) Trong trường hợp chủ hàng, người khai hải quan không chấp hành, cản trở, trì hoãn thực hiện quyết định kiểm tra, trưởng đoàn lập biên bản và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định.
c) Trong quá trình kiểm tra, nếu chủ hàng, người khai hải quan có biểu hiện tẩu tán, tiêu hủy tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật khác liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu thì trưởng đoàn được quyền tạm giữ tài liệu, tang vật đó.
d) Xác minh các nội dung có liên quan đến vụ việc đang kiểm tra tại các cơ quan, tổ chức có liên quan;
đ) Lập, ký biên bản kiểm tra.

Điều 83.   Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng
Khi cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sau thông quan, ngoài quy định tại Điều 18 Luật này, người khai hải quan, chủ hàng có quyền và trách nhiệm sau:
1. Người khai hải quan, chủ hàng có quyền:
a) Cung cấp hồ sơ, chứng từ, tài liệu để chứng minh tính trung thực nội dung đã khai báo với cơ quan hải quan;
b) Yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận văn bản khi có yêu cầu xuất trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ theo quy định của pháp luật về hải quan;
c) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra, thông tin tài liệu thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Nhận bản kết luận kiểm tra và yêu cầu giải thích nội dung bản kết luận kiểm tra; bảo lưu ý kiến trong bản kết luận kiểm tra;
e) Khiếu nại, khởi kiện và yêu cầu cơ quan hải quan bồi thường thiệt hại do quá trình kiểm tra không đúng quy định pháp luật;
g) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của công chức hải quan;
h) Trong trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng có quyền yêu cầu trưởng đoàn kiểm tra xuất trình quyết định kiểm tra, giấy chứng minh hải quan.
i) Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người khai hải quan, chủ hàng có nghĩa vụ
a) Chấp hành yêu cầu kiểm tra sau thông quan, cử người có thẩm quyền làm việc với cơ quan hải quan;
b) Cung cấp hồ sơ, chứng từ, tài liệu, dữ liệu và xuất trình hàng hóa theo đúng nội dung và thời gian yêu cầu của cơ quan hải quan;
c) Giải trình những vấn đề liên quan theo yêu cầu của  cơ quan hải quan;
d) Ký biên bản kiểm tra;
đ) Chấp hành các quy định về kiểm tra, kết luận kiểm tra và các quyết định xử lý của cơ quan hải quan và các cơ quan có thẩm quyền;
e) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 84.   Xử lý kết luận kiểm tra sau thông quan
Căn cứ kết quả kiểm tra, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan ban hành bản kết luận kiểm tra, các quyết định hành chính; trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 85.   Thanh tra chuyên ngành về hải quan
1. Cơ quan Hải quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về hải quan theo quy định pháp luật về thanh tra và pháp luật khác có liên quan.
2. Hoạt động thanh tra chuyên ngành về hải quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và các văn bản pháp luật có liên quan.
3. Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện thanh tra chuyên ngành về hải quan; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.
 
CHƯƠNG IV
TỔ CHỨC THU THUẾ VÀ CÁC KHOẢN THU KHÁC ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
 
Điều 86.   Trách nhiệm của người khai hải quan trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế và các khoản thu khác
1. Kê khai, tính thuế, nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn và chịu trách nhiệm về việc kê khai, tính thuế của mình.
2. Thực hiện các nghĩa vụ khác trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
3. Chấp hành các quyết định của cơ quan hải quan về thuế và các khoản thu khác.

Điều 87.   Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tổ chức thu thuế và các khoản thu khác
1. Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện thống nhất việc thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; việc áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc kê khai, tính thuế, thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, ấn định thuế của người khai hải quan; thu thuế và quản lý việc nộp thuế; trong trường hợp phát hiện người khai hải quan tính sai số thuế phải nộp thì sau khi điều chỉnh phải thông báo cho người khai hải quan biết. Thời hạn ấn định thuế, truy hoàn số thuế phải nộp được thực hiện theo các quy định của pháp luật về thuế.

Điều 88.   Thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế
Thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

Điều 89.   Trị giá hải quan
1. Trị giá hải quan được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế.
3. Trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với cam kết quốc tế.
4. Tỷ giá tính thuế là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với đồng tiền nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế. Trường hợp tại thời điểm tính thuế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công bố tỷ giá tính thuế thì áp dụng tỷ giá tính thuế của ngày hôm trước liền kề.
Chính phủ quy định cụ thể về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại điều này.

Điều 90.   Xác định thuế suất đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Việc áp dụng mức thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu căn cứ vào mã số hàng hóa và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm tính thuế.
 
 CHƯƠNG V
 PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU, VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP
HÀNG HOÁ QUA BIÊN GIỚI
 
Điều 91.   Nhiệm vụ của Hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
2. Cơ quan hải quan các cấp được thành lập đơn vị chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

Điều 92.   Phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
1. Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý.
Trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan mà có dấu hiệu hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì cơ quan hải quan được tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng trên địa bàn biết và phối hợp.
2. Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải đã đưa ra ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan nhà nước hữu quan có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan thì theo thẩm quyền, cơ quan đó thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa vi phạm pháp luật hải quan theo quy định tại Điều 7 Luật này; thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo phối hợp hoạt động của cơ quan hải quan và các cơ quan nhà nước hữu quan khác tại địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

Điều 93.   Thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
1. Tổ chức lực lượng, xây dựng cơ sở dữ liệu, áp dụng biện pháp nghiệp vụ cần thiết, thu thập thông tin trong nước và ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, phục vụ thông quan hàng hoá và kiểm tra sau thông quan; phối hợp với các cơ quan hữu quan bảo vệ bí mật về người cung cấp thông tin các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo quy định của pháp luật.
2. Thực hiện kiểm soát hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải; chủ trì phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong địa bàn hoạt động hải quan.
3. Khi tiến hành kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải, cơ quan hải quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp sau:
a) Tuần tra hải quan;
b) Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật để phục vụ cho việc điều tra xác minh, làm rõ và xử lý hành vi vi phạm pháp luật hải quan;
c) Điều tra đối với dấu hiệu hành vi vi phạm pháp luật về hải quan;
d) Tiến hành một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền quy định tại Bộ Luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự;
đ) Các biện pháp trinh sát cần thiết để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan;
e) Sử dụng cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi hoặc loa ra hiệu lệnh cho người, phương tiện vận tải có dấu hiệu vi phạm dừng lại để kiểm tra, khám xét trong địa bàn hoạt động hải quan;
g) Thực hiện truy đuổi khi phát hiện có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của cơ quan hải quan, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan;
h) Trưng cầu giám định tài liệu, hàng hoá, tang vật vi phạm để làm căn cứ xử lý;
i) Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, chó nghiệp vụ, thiết bị quan sát, soi chiếu, công nghệ sinh hoá, thiết bị cơ khí, điện, điện tử và các phương tiện khác theo quy định của pháp luật;
k) Triệu tập và lấy lời khai người vi phạm, người làm chứng và tổ chức, cá nhân liên quan;
l) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ việc kiểm tra, khám xét, điều tra, xác minh hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới;
m) Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính mở bưu phẩm, hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu qua đường bưu chính để kiểm tra khi có căn cứ cho rằng bưu phẩm, hàng hoá đó có tài liệu, hàng hoá liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
4. Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Điều 94.   Thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
1. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi cất giấu hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì Chi cục trưởng Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan, Hải đội trưởng hải đội kiểm soát trên biển, được quyết định tạm hoãn việc khởi hành, dừng phương tiện vận tải để kiểm tra, khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật, nơi cất giấu hàng hoá, tạm giữ người, phương tiện vận tải, hàng hoá, áp giải người vi phạm theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp điều tra xác minh làm rõ hành vi vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật hải quan đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan hải quan, công chức hải quan có thẩm quyền do pháp luật tố tụng hình sự quy định được khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra. Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra phải theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Cơ quan hải quan, công chức hải quan khi tiến hành các hoạt động được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 95.   Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
1. Quyền của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan
a) Cung cấp các thông tin, hồ sơ tài liệu và chứng cứ liên quan đến vụ việc vi phạm cho cơ quan hải quan; đề nghị cơ quan hải quan trưng cầu giám định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
b) Được bảo vệ bí mật, bảo vệ tính mạng và được hưởng các đãi ngộ theo quy định của pháp luật khi cung cấp thông tin, tố giác, tố cáo về các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.
2. Nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan
a) Người điều khiển, người có mặt trên phương tiện vận tải phải chấp hành lệnh kiểm tra, khám xét và xuất tr�nh giấy tờ, chứng từ, tài liệu theo yêu cầu của công chức hải quan có trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Người điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm cung cấp về sơ đồ hầm hàng, chỉ dẫn, mở nơi nghi vấn cất giữ hàng hoá để công chức hải quan tiến hành khám xét.
b) Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến các giao dịch thanh toán, giao dịch bảo hiểm theo yêu cầu của cơ quan Hải quan để phục vụ công tác điều tra, xác minh và xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các vi phạm pháp luật hải quan khác.
c) Các tổ chức và cá nhân có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có trách nhiệm đến làm việc tại cơ quan hải quan, cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan để phục vụ công tác điều tra, xác minh và xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi vi phạm pháp luật hải quan khác.

Điều 96.   Trang bị và sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện phục vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
1. Cơ quan hải quan, công chức hải quan được trang bị các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, cờ hiệu, pháo hiệu để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan. Việc trang bị, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ phải theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan, công chức hải quan trực tiếp làm nhiệm vụ chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp lực lượng, hỗ trợ phương tiện, cung cấp thông tin; nếu phương tiện được hỗ trợ, bị thiệt hại thì cơ quan hải quan phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
 
CHƯƠNG VI
THÔNG TIN HẢI QUAN
VÀ THỐNG KÊ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

Mục 1
THÔNG TIN HẢI QUAN
 
Điều 97.   Thông tin hải quan
 1. Thông tin hải quan là những thông tin, dữ liệu về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các thông tin khác liên quan hoạt động hải quan.
2. Thông tin hải quan được thu thập, lưu trữ, quản lý, ứng dụng để phục vụ thực hiện thủ tục hải quan; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; kiểm tra sau thông quan; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hoạt động nghiệp vụ hải quan khác.

Điều 98.   Hệ thống thông tin hải quan
1. Cơ quan hải quan xây dựng, quản lý hệ thống thông tin hải quan bao gồm:
a) Thông tin liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
b) Thông tin liên quan đến phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
c) Thông tin liên quan đến tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
d) Các thông tin khác liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan.
2. Hệ thống thông tin hải quan được quản lý tập trung thống nhất trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu ở trong ngành Hải quan; kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài ngành Hải quan, của Hải quan các nước và Tổ chức quốc tế trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Nghiêm cấm hành vi truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng, phát triển hệ thống thông tin hải quan đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan trong từng thời kỳ.

Điều 99.   Thu thập, cung cấp thông tin hải quan ở trong nước
            1. Cơ quan Hải quan tổ chức thu thập thông tin từ các nguồn:
            a) Quá trình thực hiện thủ tục hải quan;
            b) Các hoạt động nghiệp vụ hải quan;
            c) Các Bộ, ngành có liên quan và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các Bộ, ngành có liên quan;
            d) Các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
            đ) Phương tiện thông tin đại chúng;
            e) Người cung cấp thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hoặc thông tin về vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực hoạt động này;
            g) Các nguồn thông tin khác.
            2. Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc thu thập, cung cấp thông tin hải quan ở trong nước:
            a) Tiếp nhận, cung cấp thông tin cho người khai hải quan theo quy định của pháp luật;
            b) Xây dựng, thực hiện các cơ chế phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin với các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các Bộ, ngành liên quan;
            c) Áp dụng các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ để thu thập thông tin theo quy định của pháp luật;
            d) Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
            đ) Khai thác các nguồn thông tin trên phương tiên thông tin đại chúng và các nguồn thông tin khác có liên quan.
3. Quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin hải quan
a) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan cung cấp các thông tin hải quan có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phù hợp với quy định của Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
b) Các cơ quan chức năng thuộc các Bộ, ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cho cơ quan Hải quan để phục vụ quản lý nhà nước về hải quan.
c) Các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan hải quan theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
4. Chính phủ quy định cụ thể quyền và trách nhiệm trong việc thu thập, cung cấp thông tin quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Điều 100.   Thu thập thông tin hải quan ở nước ngoài phục vụ quản lý nhà nước về hải quan
1.     Cơ quan hải quan tổ chức thu thập thông tin ở nước ngoài để phục vụ quản lý nhà nước về hải quan, bao gồm:
a)     Xác định xuất xứ, trị giá giao dịch, tiêu chuẩn, phẩm cấp của hàng hóa nhập khẩu;
b)    Xác định tính hợp pháp của các chứng từ giao dịch liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
c)     Xác minh về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới hoặc các vi phạm pháp luật khác về hải quan;
d)    Xác minh các thông tin khác liên quan đến người tham gia hoặc liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
2.     Nguồn thông tin hải quan được thu thập ở nước ngoài bao gồm:
a)    Thông tin do cơ quan hải quan, các cơ quan quản lý nhà nước khác của nhà nước và vùng lãnh thổ cung cấp theo hiệp định hợp tác hỗ trợ trao đổi, cung cấp thông tin giữa các quốc gia;
b)    Thông tin do các tổ chức thực thi pháp luật quốc tế và các tổ chức quốc tế khác có liên quan cung cấp theo các hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận tham gia;
c)    Thông tin của nhà sản xuất hàng hóa, người xuất khẩu, nhập khẩu cung cấp theo đề nghị của cơ quan hải quanđược thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận tham gia;
d)    Thông tin của người cung cấp dịch vụ thông tin ở nước ngoài;
            đ) Thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên các phương tiện thông tin đại chúng;
e)    Các thông tin khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
3.     Các thông tin quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều này, có xác nhận của người cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật nhà nước sở tại có giá trị chứng minh, làm căn cứ cho việc ấn định thuế và xử lý các vi phạm pháp luật về hải quan.
4.     Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thu thập thông tin ở nước ngoài theo nội dung quy định tại Điều này.

Điều 101.   Bảo vệ bí mật thông tin hải quan
            1. Cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp, kỹ thuật bảo mật thông tin hải quan, ngăn ngừa các hành động truy cập trái phép vào hệ thống thông tin hải quan.
        2. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm quy định danh mục thông tin bảo vệ bí mật của ngành Hải quan và của tổ chức, cá nhân phù hợp với các quy định của pháp luật.
 
Mục 2
THỐNG KÊ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
Điều 102.   Hoạt động thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
         1. Hoạt động thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, dự báo, báo cáo, phổ biến, lưu trữ thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện.
       2. Thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là sản phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm số liệu thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và bản phân tích số liệu thống kê đó.
        3. Tổng cục Hải quan tổ chức xuất bản các ấn phẩm thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

Điều 103.   Báo cáo thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm báo cáo Chính phủ các thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu định kỳhàng tháng theo hệ thống mẫu biểu quy định và báo cáo phân tích đánh giá tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá.
 
CHƯƠNG VII
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN
 
Điều 104.   Nội dung quản lý nhà nước về hải quan
Nội dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan.
3. Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật hải quan;
4. Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan;
5. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan;
6. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý hải quan hiện đại;
7. Thống kê nhà nước về hải quan;
8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan;
9. Hợp tác quốc tế về hải quan.

Điều 105.   Cơ quan quản lý nhà nước về hải quan
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hải quan.
2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý nhà nước về hải quan.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật hải quan tại địa phương.

Điều 106.   Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
1. Cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại với cơ quan hải quan, cơ quan khác có thẩm quyền của Nhà nước hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật về quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan hải quan, cơ quan khác của Nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật của công chức hải quan, cơ quan hải quan xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Điều 107.   Trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; trong trường hợp nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì có trách nhiệm hướng dẫn cho người khiếu nại biết để khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
2. Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của mình; trong trường hợp nhận được tố cáo không thuộc thẩm quyền của mình thì có trách nhiệm chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người tố cáo biết.

Điều 108.   Thời hạn, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Thời hạn, thủ tục khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan.
2. Trong thời gian khiếu nại hoặc khởi kiện, tổ chức, cá nhân vẫn phải thi hành quyết định hành chính hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan hải quan, cơ quan khác có thẩm quyền của Nhà nước. Khi có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hải quan, cơ quan khác có thẩm quyền của Nhà nước hoặc quyết định, bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì thi hành theo các quyết định, bản án đó.
 
CHƯƠNG VIII
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
 
Điều 109.   Khen thưởng
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện pháp luật hải quan; người có công tố giác, phát hiện hoặc giúp cơ quan hải quan trong việc đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan hải quan, công chức hải quan hoàn thành tốt nhiệm vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 110.   Xử lý vi phạm
1. Người nào vi phạm các quy định của pháp luật về hải quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Công chức hải quan có hành vi cản trở hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
 
CHƯƠNG IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
 
Điều 111.   Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Các quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 112.   Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa ….., kỳ họp thứ …… thông qua ngày …. tháng …. năm 2014.
 
                                                                                             CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
 
 
 
 
                                                                                                 Nguyễn Sinh Hùng
 
 
  BỘ TÀI CHÍNH
1
  

 Số:          /TTr-BTC
     CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
1
Dự thảo
ngày 18/3/2013
 
               Hà Nội, ngày   tháng 3 năm 2013
 
 
Điều 1.      TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ
Về Dự án Luật Hải quan (sửa đổi)
1
  
 Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 của Quốc hội khoá XIII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII; Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29/12/2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13; Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 207/QĐ-TTg ngày 17/2/2012 về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Bộ Tài chính đã khẩn trương tổ chức việc nghiên cứu, soạn thảo   Dự án Luật Hải quan (sửa đổi theo quy định tại Luật ban hành VBQPPL) và xin trình Chính phủ như sau:

I - SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT HẢI QUAN (SỬA ĐỔI)
1. Tình hình thực hiện Luật Hải quan những năm qua.
 Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 29.6.2001, có hiệu lực từ ngày 1.1.2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005, có hiệu lực thi hành từ 1.1.2006 (dưới đây gọi chung là Luật Hải quan). Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia đạt được kết quả quan trọng sau:

Một là, Luật Hải quan đã tạo khung pháp lý cao, nhiều nội dung quan trọng, cơ bản đồng bộ với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập giai đoạn 2001 đến nay; góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan và hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan, chuyển một bước từ phương thức quản lý thủ công sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và thủ tục hải quan điện tử.
Các thủ tục hành chính về hải quan đã được quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản, thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh được thông quan với thời gian và chi phí giảm đi đáng kể, góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều khâu trung gian không cần thiết đã được loại bỏ; thời gian tiến hành thủ tục hải quan được rút ngắn; các giấy tờ người khai Hải quan phải nộp phải xuất trình được giảm bớt. Chế độ ưu tiên làm thủ tục hải quan đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan đã bước đầu được thực hiện. Từ 2009 đến nay, ngành Hải quan cũng đã hoàn thành việc rà soát, hệ thống hoá và công khai 239 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 127 thủ tục hành chính, ước giảm hơn chi phí tuân thủhàng trăm tỷ đồng mỗi năm.
Phương thức quản lý hải quan hiện đại được từng bước áp dụng nhằm đáp ứng, phục vụ tình hình phát triển kinh tế đối ngoại; chuyển dần thủ công sang hiện đại, thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, áp dụng các biện pháp kiểm tra, kiểm soát gián tiếp bằng thu thập, xử lý thông tin, “giảm tiền kiểm” chuyển sang “hậu kiểm”. Tỷ lệ kiểm tra hàng hoá, năm 2005: miễn kiểm tra 40,2%; kiểm tra thực tế 59,8%; đến tháng 31/12/2012, tỷ lệ /miễn kiểm tra (phân luồng xanh) 63,25%; tỷ lệ kiểm tra hồ sơ (phân luồng vàng) 25,29%; tỷ lệ kiểm tra thực tế (phân luồng đỏ) 11,46% (giảm 88,54% so với năm 2000). Qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh qua các năm (kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2010 đạt 157 tỷ USD tăng 23,6%, 2011 đạt 203,1 tỷ USD tăng 29,7%, 2012 đạt 228,3 tỷ USD tăng 12,1% so với năm trước).

Hai là, Luật Hải quan đã tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của cơ quan Hải quan trong phòng chống buôn lậu,vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chủ quyền đất nước.
Trách nhiệm, thẩm quyền, nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan của cơ quan Hải quan được quy định đầy đủ hơn. Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chủ trì phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Ngoài địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan phối hợp với các lực lượng chức năng phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Nhiều giải pháp đồng bộ phòng, chống buôn lậu trong và ngoài địa bàn hoạt động hải quan; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới đã được thực hiện có kết quả. Công tác phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng tích cực, hiệu quả. Số vụ vi phạm phát hiện, bắt giữ và xử lý của toàn ngành Hải quan qua các năm như sau: năm 2010 – 11.150 vụ, thu nộp ngân sách 68.100 triệu đồng; năm 2011 – 18.666 vụ, thu nộp ngân sách 158.338 triệu đồng; năm 2012 – 23.268 vụ, thu nộp ngân sách 240.087 triệu đồng. Từ năm 2010 - 2012, Ngành Hải quan đã khởi tố 30 vụ, chuyển cơ quan khác khởi tố 198 vụ vi phạm.

Ba làLuật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để ngành Hải quan thực thi nhiệm vụ thu đúng, thu đủ các sắc thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thu khác vào ngân sách quốc gia.
Luật đã quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý, thu, nộp thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ chế người khai hải quan tự khai, tự tính, tự nộp thuế, tự chịu trách nhiệm về nội dung kê khai thuế; ân hạn thuế gắn với yêu cầu chấp hành tốt pháp luật được áp dụng. Qua đó thu về thuế từ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được bảo đảm, ngành Hải quan cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách nhà nước giao hàng năm. (Năm 2008 số thu là 125.517 tỷ đồng, đến năm 2012 số thu đã là 197.845 tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần).

Bốn làLuật Hải quan đã đáp ứng được yêu cầu từng bước hội nhập kinh tế quốc tế ở thời điểm ban hành và có hiệu lực.
Luật đã tạo điều kiện thuận lợi để triển khai Hiệp định cơ chế một cửa ASEAN 2005; Khung tiêu chuẩn đảm bảo an ninh thương mại toàn cầu (FOS) của Tổ chức Hải quan thế giới; Công ước về hỗ trợ hành chính lẫn nhau về vấn đề hải quan (Công ước Johanesburg); Công ước vận tải đường bộ quốc tế (Công ước TIR). Thực hiện các cam kết trong ASEAN về thủ tục hải quan, như: Hành lang xanh; Tờ khai chung ASEAN; Danh mục biểu thuế chung ASEAN,... Triển khai thực hiện các nội dung liên quan của Hiệp định giữa Chính phủ các nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hoá và người qua lại biên giới trong khuôn khổ Hợp tác Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (Hiệp định GSM); tăng cường liêm chính cho cán bộ, công chức Hải quan theo Tuyên bố Arusha về liêm chính hải quan của Tổ chức Hải quan Thế giới.

Năm là, Luật Hải quan đã tạo cơ sở để xây dựng, kiện toàn tổ chức, bộ máy, lực lượng Hải quan Việt Nam từng bước hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả; công chức Hải quan ngày càng được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất, với định hướng phát triển nhằm ngang tầm với Hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Đáng chú ý trong số đó là:
- Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng cường hợp tác hải quan và hội nhập Hải quan quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế song phương, đa phương; theo đó, đã thực hiện hoạt động kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng, kiểm tra hàng hóa từ nước xuất khẩu; cử cán bộ hải quan ra nước ngoài thu thập thông tin, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận hải quan nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động tương ứng. Luật hiện hành chưa quy định nội dung này; Mặt khác,  đối chiếu với các chuẩn mực Hải quan quốc tế, Luật Hải quan Việt Nam đã có những điểm chưa được nội luật hoặc nội luật chưa đầy đủ từ khái niệm đến các quy định quản lý Hải quan mới theo công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới cũng như các chế định để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN…
- Luật chưa tạo điều kiện pháp lý cao cho việc hiện đại hóa hải quan mà trước hết là triển khai rộng rãi, phổ biến thủ tục Hải quan điện tử; chưa quy định thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa gia công, hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu trong khi thực tế các loại hình này phát triển mạnh và được Luật thương mại, các luật Thuế quy định.
- Các quy định về thủ tục Hải quan hoạt động kiểm tra giám sát hành chính từ hồ sơ đến khai hải quan, việc áp dụng chế độ quản lý Hải quan đối với các loại hình hàng hóa XNK; các quy định về địa điểm làm thủ tục làm Hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát hải quan đối với hàng hóa XNK và thông quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trong Luật hiện hành chủ yếu theo phương thức thủ công truyền thống đã bộc lộ những bất hợp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình nghiệp vụ và tiến trình hiện đại hóa hải quan.
Luật chưa xác định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong việc kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan hàng hóa nhanh mà vẫn đáp ứng yêu cầu quản lý và chưa quy định về cơ chế một cửa quốc gia trong việc thực hiện thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu; chưa quy định cụ thể về tiêu chuẩn trong việc quy hoạch các khu vực cảng, cửa khẩu nhằm bảo đảm các điều kiện để trang bị máy móc thiết bị phục vụ hoạt quản lý nhà nước tại cảng, cửa khẩu trong đó có công tác hải quan.
- Chưa có quy định về quyền hạn và trách của các tổ chức cá nhân trực tiếp tham gia trong việc quản lý, lưu giữ hàng hóa hóa xuất nhập khẩu như doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Các quy định về phạm vi, biện pháp, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong Luật hải quan hiện hành chưa đầy đủ so với thực tế tổ chức triển khai thực hiện, một số quy định hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật dẫn đến những hạn chế trong hiệu quả hoạt động của công tác này.
- Trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế đối với hàng hóa XNK, các quy định liên quan đến chính sách quản lý thu theo các Luật thuế và Luật Quản lý thuế đã thay đổi chưa được quy định đồng bộ trong luật Hải quan dẫn đến những hạn chế trong công tác tổ chức thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đang có sự tăng trưởng nhanh về kim ngạch hàng năm.
(Báo cáo tổng kết thi hành Luật Hải quan kèm theo).

2. Sự cần thiết ban hành Luật Hải quan sửa đổi:
Việc nghiên cứu sửa đổi Luật Hải quan xuất phát từ các lý do sau:

Một là, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra.
Hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế đã trở thành tất yếu. Luật Hải quan hiện hành phải được sửa đổi để nội luật hóa các chuẩn mực Hải quan Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập như Công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Hiệp định về việc thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và đang tham gia đàm phán các Hiệp định: EVFTA, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, EFTA, TPP,…

Hai là, việc sửa đổi Luật Hải quan tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Luật Hải quan hiện hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 tạo tiền đề áp dụng hải quan điện tử song chưa đảm bảo được cơ sở pháp lý cho việc chuyển hẳn sang áp dụng rộng rãi phổ biến. Trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2005 – 2010 tăng bình quân 25%/năm; năm 2011 tăng 29,7% so với năm 2010; năm 2012 đã đạt được 228,3 tỷ USD bằng 1,68 lần GDP; số lượng tờ khai 2012 đạt 5,18 triệu. Dự kiến đến năm 2020 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 400 tỷ USD; số lượng tờ khai đạt trên 10 triệu tờ khai, đòi hỏi việc thông quan hàng hóa của ngành Hải quan phải có những thay đổi cơ bản để đáp ứng trong khi đó về cơ bản các quy định trong Luật Hải quan hiện hành vẫn quy định thực hiện theo phương thức thủ công truyền thống từ việc quy định hồ sơ hải quan, khai hải quan đến thông quan. Vì vậy, việc ban hành Luật Hải quan sửa đổi hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến Hải quan điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại trong chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn mới.

Ba là, từ yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả.
 Thời gian qua cải cách hành chính mà trước hết là cải cách thủ tục hành chính trong các hoạt động quản lý nhà nước trong đó có cải cách thủ tục hải quan đã được khởi động và thu được kết quả tích cực. Cải cách thủ tục hải quan những năm qua đã mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế, góp phần giảm thời gian và chi phí thủ tục tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các kết quả ấy cần được phải được củng cố bằng pháp luật. Luật Hải quan sửa đổi nhằm hướng tới mục tiêu ấy.

Bốn là, để tạo môi trường pháp luật thống nhất và đồng bộ áp dụng trong nền kinh tế và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hải quan hiện hành
Từ ngày Luật Hải quan ban hành đến nay nhiều pháp luật liên quan đã được ban hành mới hoặc sửa đổi; trong đó có Luật Biển Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Thanh tra, Luật Quản lý thuế và nhiều luật khác đòi hỏi Luật Hải quan phải có sửa đổi; đồng thời với đó là khắc phục những hạn chế, bất cập qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật Hải quan đã chỉ ra.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU CHỦ YẾU XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT HẢI QUAN (SỬA ĐỔI).
- Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan sửa đổi là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo an ninh chính trị, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 
-  Mục tiêu xây dựng Dự án Luật:

1. Tạo nền tảng pháp luật thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2020-2030 đã được Quốc hội phê duyệt, chiến lược phát triển tài chính, chiến lược phát triển hải quan đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Hải quan; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật hải quan và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận lợi cho tổ chức thực hiện.

2. Sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm góp phần phục vụ chiến lược hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra; phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam mới tham gia nhất là từ khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) ngày 1.7.2007 và chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập sâu, rộng hơn trong giai đoạn tới.

3. Đổi mới các nội dung và các điều Luật theo hướng gia tăng các quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính; cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, tạo thuận lợi thương mại, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, thực hiện hải quan điện tử, một cửa quốc gia tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

4. Nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ an ninh kinh tế; nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan hải quan trong việc thực hiện pháp luật hải quan.
 
III. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT HẢI QUAN (SỬA ĐỔI)
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi), Bộ Tài chính đã phối hợp với các cơ quan triển khai các hoạt động sau:
1. Thành lập Ban soạn thảo Dự án Luật Hải quan và Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo với các thành viên là đại diện của các Bộ, ngành và cơ quan liên quan.
2. Tổng kết và đánh giá kết quả 10 năm thực hiện Luật Hải quan từ ngày Luật có hiệu lực đến nay, rút ra những thành công, những tồn tại và xác định nguyên nhân làm cơ sở xây dựng dự án Luật sửa đổi.
3. Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi), Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Hải quan và tổ chức các cuộc hội thảo với đại diện các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học để lấy ý kiến góp ý vào dự thảo luật.
4. Hoàn thiện dự án Luật sau khi lấy ý kiến các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đăng dự thảo trên Trang điện tử (Website) của Chính phủ và Bộ Tài chính theo quy định; gửi Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định của Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp (Công văn ...) và các Bộ ngành, Bộ Tài chính đã hoàn chỉnh dự án Luật (sửa đổi) và các hồ sơ (kèm theo) để trình Chính phủ. 
  
IV. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1. Bố cục của Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi)
Dự án Luật Hải quan sửa đổi dự kiến gồm 112 Điều, được bố cục thành 9 Chương (trong đó giữ nguyên 33 Điều; sửa đổi 44Điều; bổ sung 35 Điều mới), cụ thể:
- Chương I: Quy định chung; có 11 Điều (từ Điều 1 đến Điều 11).
- Chương II: Nhiệm vụ, tổ chức của hải quan; có 4 Điều (từ Điều 12 đến Điều 15).
- Chương III: Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan; có 70 Điều, chia làm 10 mục (từ Điều 16 đến Điều 85).
- Chương IV: Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; có 5 Điều (từ Điều 86 đến Điều 90).
- Chương V: Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; có 6 Điều (từ Điều 91 đến Điều 96).
- Chương VI: Thông tin hải quan và thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; có 7 Điều (từ Điều 97 đến Điều 103).
- Chương VII: Quản lý nhà nước về hải quan; có 5 Điều (từ Điều 104 đến Điều 108).
- Chương VIII: Khen thưởng, xử lý vi phạm; có 2 Điều (từ Điều 109 đến Điều 110).
- Chương IX: Điều khoản thi hành; có 2 Điều (từ Điều 111 đến Điều 112).

2. Những nội dung cơ bản và sửa đổi của Dự án Luật như sau:
2.1. Nhóm vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan, nội luật hoá các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Một là, thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan (từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử)
Luật Hải quan hiện hành cơ bản được xây dựng trên cơ sở thực hiện thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống (thủ công) từ khâu tiếp nhận tờ khai, kiểm tra giám sát đến thông quan hàng hóa. Luật Hải quan có sửa đổi bổ sung năm 2005 đã tạo tiền đề để đưa vào áp dụng hải quan điện tử, song khi triển khai rộng rãi phát sinh một số bất cập về pháp lý.
 Để khắc phục, tại Điều 28 dự thảo Luật Hải quan về khai hải quan có quy định “Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử. ...”; việc khai trong tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định; và tại Điều 31 dự thảoLuật Hải quan về kiểm tra hồ sơ hải quan quy định: “...Việc kiểm tra hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan”.
  Đồng bộ với các quy định trên về thủ tục hải quan điện tử dự thảo Luật Hải quan còn bổ sung, sửa đổi các Điều từ Điều 46 đến Điều 74 liên quan đến thủ tục hải quan cho các loại hình đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu, chế xuất, một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu....nhằm bảo đảm tính minh bạch và triển khai hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Hai là, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan
Tại Điều 19 và Điều 22 Luật Hải quan hiện hành quy định về hồ sơ hải quan, thời hạn công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá cho thấy: trong 5 loại chứng từ bắt buộc phải có trong hồ sơ khai hải quan gồm: tờ khai, hóa đơn thương mại, hợp đồng mua bán, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật nhưng trong thực tế cơ quan Hải quan chỉ cần đầy đủ các chứng từ trên trong một số trường hợp cần thiết; ngoài ra Luật chưa quy định cụ thể thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan nên dễ dẫn đến tùy tiện gây khó khăn cho người khai hải quan.
Để khắc phục, tại Điều 23 dự thảo Luật quy định rõ thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc; giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá xuống 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình hàng hoá cho cơ quan hải quan; trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian tối đa không quá 2 ngày làm việc. Đồng thời để giảm bớt giấy tờ phải nộp không cần thiết cho cá nhân, tổ chức khi làm thủ tục hải quan. Tại Điều 24 dự thảo Luật đã đưa ra quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo hướng chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có. Đồng thời, quy định trường hợp cụ thể theo yêu cầu của pháp luật có liên quan (Luật Thương mại, Luật Bảo vệ môi trường…). Khi đó hồ sơ hải quan đối với những trường hợp này phải có hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải hoặc hợp đồng mua bán, hoặc giấy phép, hoặc kết quả kiểm tra chuyên ngành.

Ba là, áp dụng đầy đủ nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; có chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện
- Luật Hải quan hiện hành chưa có các quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro. Trong khi đó quản lý rủi ro được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế mang lại hiệu quả quản lý cao và đã trở thành thông lệ quản lý hải quan của nhiều nước theo các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro của Công ước Kyoto sửa đổi.
Để khắc phục, tại khoản 16, khoản 17 Điều 4; khoản 2 Điều 16 và Điều 17 Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về quản lý rủi ro làm cơ sở để người khai hải quan, cơ quan hải quan thực hiện thống nhất. Đồng thời, tại Điều 31 về kiểm tra hồ sơ hải quan, Điều 32 kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát hải quan cũng có quy định căn cứ vào kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để thực hiện thay cho cách làm theo xác suất hiện nay. Các quy định này sẽ tạo điều kiện để cơ quan hải quan tập trung lực lượng ở những nơi rủi ro cao, giảm lực lượng ở những nơi có rủi ro thấp, khắc phục tình trạng gian lận; góp phần đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trên cơ sở phương thức quản lýhải quan hiện đại.
- Về chế độ ưu tiên, Luật Hải quan hiện hành tuy có đề cập đến việc miễn kiểm tra đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan song chưa chuẩn hóa điều kiện chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.
Để tạo tiền đề thực hiện việc công nhận chế độ ưu tiên giữa các quốc gia như hải quan các nước. (Ví dụ: Hải quan Hàn Quốc thực hiện công nhận lẫn nhau với 5 quốc gia; Mỹ thực hiện công nhận lẫn nhau với 7 quốc gia; Nhật Bản thực hiện công nhận lẫn nhau với 6 quốc gia,...), tại  Chương III, mục 2 Dự thảo Luật đã quy định rõ chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp (Điều 37), điều kiện áp dụng (Điều 38), quyền và trách nhiệm cơ quan hải quan (Điều 39) và trách nhiệm của doanh nghiệp dược áp dụng chế chế độ ưu tiên (Điều 40) phù hợp với các Chuẩn mực chuyển tiếp 3.32 Công ước Kyoto, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới, khuyến nghị việc xây dựng chương trình về Doanh nghiệp ưu tiên (AEO).

Bốn là, bổ sung cơ chế xác định trước trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 27):
Tại Điều 27 Dự thảo Luật đã bổ sung cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan và cũng quy định rõ đây là quyền của người khai hải quan và nghĩa vụ của cơ quan hải quan (ở những điều tương ứng về quyền và nghĩa vụ). Tạo cơ sở pháp luật để cơ quan hải quan thực hiện; tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động xác định chính sách quản lý đối với hàng hoá dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu; tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, giảm tối đa các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan phù hợp với quy định của Công ước Kyoto cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN.

Năm là, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế một cửa
Luật Hải quan hiện hành chưa quy định rõ cơ chế phối hợp giữa cơ quan hải quan và lực lượng chức năng về kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng nên các hoạt động này còn mang tính rời rạc, chưa thống nhất. Đồng thời, Luật cũng chưa quy định cụ thể để thực hiện Hiệp định về Cơ chế một cửa ASEAN mà Việt Nam là thành viên.
Để khắc phục, tại Điều 34 Dự thảo Luật quy định:
Trường hợp theo quy định của pháp luật phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật đối với hàng hoá, phương tiện vận tải thì cơ quan hải quan căn cứ quy định của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa để thực hiện việc kiểm tra hoặc sử dụng kết quả kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.”
“Trường hợp hàng hóa được làm thủ tục thông quan thông qua hệ thống một cửa quốc gia thì việc thông báo, tiếp nhận và xử lý kết quả kiểm tra thực hiện theo quy định của Chính phủ về cơ chế một cửa quốc gia”.
Quy định này nhằm tăng cường cơ chế phối hợp và bảo đảm thống nhất với các Luật, Pháp lệnh liên quan về kiểm dịch (Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực phẩm), kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm), kiểm tra chất lượng (Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa); và bảo đảm cơ sở pháp lý để triển khai cơ chế một cửa ASEAN, một cửa quốc gia về trách nhiệm các Bộ, Ngành trong việc cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến việc cấp phép, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan để làm thủ tục hải quan.

   2.2 Nhóm vấn đề về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại.

Một là, bổ sung quy định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan
Tại Điều 6 Luật Hải quan hiện hành đã có quy định về “Địa bàn hoạt động của hải quan” nhưng chưa đầy đủ và đáp ứng được thực tiễn nên trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề vướng mắc: (i)Thủ tục hải quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, nhưng việc giám sát hải quan phải mở rộng các địa điểm khác, như: Các tuyến đường vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh đang chịu sự giám sát của hải quan chưa được quy định thuộc địa bàn hoạt động hải quan; (ii) Hàng hóa được quyền xuất  qua cửa khẩu phụ, lối mở theo quyết định của cấp có thẩm quyền theo đặc thù điều kiện kinh tế - xã hội của một số địa phương nhưng ở những nơi này chưa được quy định là địa bàn hoạt động hải quan.
Ngoài ra, với các quy định tại Luật Biển Việt Nam về quyền kiểm soát tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải của các cơ quan chức năng để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia, cần phải có quy định cơ quan hải quan có quyền tuần tra, kiểm soát để bảo đảm tuân thủ pháp luật hải quan.
Để khắc phục, tại Điều 7 Dự thảo Luật quy định rõ về phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan, ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hiện hành còn quy định “địa điểm khác được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, tuyến đường vận chuyển hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan, khu vực được phép lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan”; và
   “Tại vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát để ngăn ngừa, xử lý hành vi vi phạm pháp luật hải quan theo thẩm quyền và quy định của pháp luật” nhằm phù hợp với thực tiễn và các quy định pháp luật khác.

Hai là, tạo điều kiện để tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan
Điều 32 Luật Hải quan hiện hành quy định thẩm quyền quyết định kiểm tra sau thông quan gồm 2 cấp: Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, thực tế với số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng (đến nay đã hơn 60.000 doanh nghiệp), các phải trường hợp phải kiểm tra sau thông quan rất lớn ( Năm 2006: có 542 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan; 17 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp. Đến năm 2012: có 2247 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan; 322 trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp). Do đó, có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan để tăng cường hiệu quả của hoạt động này.
Trên cơ sở đó, tại các Điều từ 78 đến Điều 84 Dự thảo Luật đã quy định rõ về kiểm tra sau thông quan và phân cấp trách nhiệm thực hiện kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan tập trung vào một số nội dung về: Địa điểm kiểm tra sau thông quan; Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 10 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; Nội dung kiểm tra, cách thức xử lý kết quả kiểm tra; thẩm quyền quyền định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng: là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan. Dự thảo cũng quy định cụ thểquyền, nghĩa vụ của cơ quan hải quan, trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng.

Ba là, tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong thanh tra, phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Quy định rõ hoạt động thanh tra chuyên ngành về hải quan:
Theo quy định tại khoản 8 Điều 73 Luật Hải quan, Thanh tra là một trong các nội dung quản lý nước về hải quan; Luật Quản lý thuế cũng có một mục (mục 3 chương X) quy định về thanh tra thuế. Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ đã quy định Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan là các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành hải quan.
Do đó, tại Điều 85 Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về thanh tra chuyên ngành hải quan để khẳng định vị trí pháp lý của hoạt động thanh tra về hải quan, đảm bảo tính ổn định, lâu dài và qua đó đưa hoạt động thanh tra trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan.
- Tăng cường năng lực của cơ quan hải quan trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Luật Hải quan hiện hành chưa quy định cho phép cơ quan hải quan thực hiện việc truy đuổi, bắt giữ hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn nên khi đối tượng chạy ra ngoài địa bàn cơ quan hải quan phải phối hợp với cơ quan chức năng, nhiều trường hợp dẫn đến mất cơ hội đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái hàng hóa trái phép qua biên giới. Ngoài ra,  Luật Hải quan hiện hành chưa quy định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể quyền và nghĩa vụ của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới chủ yếu đang thực hiện theo văn bản dưới luật.
Đáp ứng yêu cầu tăng cường hoạt động phòng chống buôn lậu vận chuyển trái pháp hàng hóa qua biên giới của cơ quan Hải quan, tại Điều 92 Dự thảo Luật bổ sung quy định thẩm quyền của lực lượng kiểm soát hải quan được thực hiện việc truy đuổi liên tục không bị giới hạn trong trường hợp có dấu hiệu hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa quan biên giới, đồng thời quy định rõ các biện pháp nghiệp vụ cụ thể của cơ quan hải quan, thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn để phòng, chống buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

Bốn là, bổ sung trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan
- Tại Khoản 1 Điều 5a Luật Hải quan hiện hành mới chỉ có quy định “cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới”. Tuy nhiên, hiện nay hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, GMS,... cũng như các nước và các vùng lãnh thổ nên cần có cơ sở pháp lý để thực hiện; Bên cạnh đó, Luật hiện hành chưa quy định về phương thức thực hiện quyền tổ chức thu thập thông tin ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan. Trong khi đó, hiện tại hệ thống cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại và đại diện các cơ quan quản lý khác của Việt Nam tại nước ngoài khi cần cũng hỗ trợ tham gia một số vụ việc mà công tác hải quan yêu cầu nhưng hiệu quả công việc thấp, thông tin phúc đáp chậm hoặc không có, các mảng việc được theo dõi riêng rẽ thiếu tính tập trung, thống nhất; việc một cơ quan khác (không phải là Hải quan) thực hiện các thủ tục liên hệ, tiếp nhận thông tin, trao đổi với một cơ quan Hải quan nước ngoài sẽ ít có được sự sẵn sàng hợp tác có hiệu quả như mong muốn do các yêu cầu về bảo mật và sử dụng thông tin hải quan nêu tại hầu hết các văn kiện hợp tác hải quan.
Để khắc phục, tại Điều 6 Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung quy định về hợp tác quốc tế như sau:
- Bổ sung trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quan, tại các nước và vùng lãnh thổ và việc cử đại diện của Hải quan Việt Nam tại những nơi này theo quy định của pháp luật về cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
- Quy định việc cử công chức hải quan ra nước ngoài thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Những bổ sung trên sẽ hỗ trợ có hiệu quả việc hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan hải quan trong các điều ước quốc tế về Hải quan (khoản c điều  2 Công ước thành lập Hội đồng Hợp tác hải quan; điều 16 Công ước Hỗ trợ hành chính lẫn nhau về các vấn đề HQ-Công ước Johanesburge,...), các cam kết quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với tình hình thực tế Hải quan Việt Nam đã tiếp đón và làm việc với nhiều đoàn Hải quan các nước vào điều tra, xác minh thông tin để chống bán phá giá, gian lận chuyển tải, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, chấp hành các hiệp định biên giới, chống buôn lậu trên biển, kiểm soát xuất khẩu, thực thi các nghị quyết chống khủng bố của LHQ.... Đặc biệt từ năm 2006, hàng ngày cán bộ hải quan Việt – Lào đã sang lãnh thổ của nhau để thực hiện kiểm tra chung theo qui định tại Hiệp định GMS và phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đặt ra tại đề án “Cử đại diện Hải quan Việt Nam ở nước ngoài” (đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận triển khai). 

Năm là, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực Hải quan
Tại Luật Hải quan hiện hành, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan được quy định mang tính chung chung và còn chưa đầy đủ (ngoài trách nhiệm của cơ quan hải quan, công chức hải quan và người khai hải quan/chủ hàng) còn có sự tham gia các doanh nghiệp có liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… và các cơ quan quản lý chuyên ngành như: kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng hàng hóa...  dẫn đến nhiều bất cập khi triển khai thực hiện, khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, xác định trách nhiệm khi xảy ra thất thoát hàng hóa.....
Để khắc phục, Dự thảo Luật bổ sung, làm rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liên quan trong các hoạt động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể:
- Tại các Điều 18, 44, 83: Quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng trong việc làm thủ tục hải quan, thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát hải quan.
Tại các Điều 19, 43, 82: Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hải quan, công chức hải quan.
Tại Điều 44, Điều 45, Điều 64: Trách nhiệm của người vận chuyển trong giám sát hải quan; Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng.
Tại Điều 22: Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cảng, cửa khẩu, các khu phi thuế quan...
Tại Điều 34: Trách nhiệm của cơ quan kiểm tra chuyên ngành về kiểm dịch, y tế, chất lượng...
Tại Điều 95: Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

2.3. Nhóm vấn đề về sửa đổi bổ sung những quy định trong Luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, khả thi của pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

Một là, về đăng ký tờ khai hải quan:
Điều 28 Luật Hải quan hiện hành quy định về việc kiểm tra hồ sơ trước khi đăng ký tờ khai hải quan mà chưa quy định rõ địa điểm, thời điểm đăng ký tờ khai hải quan dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý hải quan khi xác định chính sách quản lý hàng hóa XNK và xác định nghĩa vụ thuế khi phát sinh; đồng thời chưa gắn kết được việc làm thủ tục hải quan với việc kiểm tra, giám sát đặc biệt là đối với loại hình nhập sản xuất xuất khẩu, gia công, chế xuất dẫn đến dẫn đến tình trạng lợi dụng buôn lậu, gian lận thương mại.
Để bảo đảm tính minh bạch và khắc phục tình trạng nêu trên, tại Điều 29 Dự thảo Luật quy định: rõ địa điểm đăng ký tờ khai và thời điểm đăng ký tờ khai làm căn cứ để xác định chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hoá XNK.

Hai là, địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22):
Điều 17 Luật Hải quan hiện hành quy định địa điểm làm thủ tục hải quan là trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu, trụ sở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu và việc kiểm tra thực tế hàng hoá có thể thực hiện ở địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thủ tục hải quan điện tử, việc tiếp nhận và xử lý tờ khai có thể tiến hành theo mô hình xử lý tập trung tại Cục, hoặc Tổng cục mà không nhất thiết phải thực hiện ở Chi cục. Mặt khác, đối với các địa điểm kiểm tra thực tế ngoài trụ sở hải quan, cần có cơ chế phân cấp để cấp Cục, Chi cục thẩm tra, quyết định công nhận và theo dõi quản lý (ví dụ địa điểm kiểm tra là chân công trình, kho của công trình, nơi sản xuất của doanh nghiệp). Ngoài ra, Luật Hải quan hiện hành chưa có quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hoá được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hoá xuất nhập khẩu với khu vực chứa hàng hoá nội địa nên khó khăn cho công tác giám sát hải quan.
Để phù hợp với việc xử lý dữ liệu tập trung trong từng giai đoạn tại cơ quan hải quan (cấp Chi cục hoặc Cục), đồng thời quy định cụ thể địa điểm kiểm tra hàng hóa phù hợp với thực tế, tại Điều 22 Dự thảo Luật sửa đổi theo hướng phân định rõ trường hợp thực hiện theo phương thức điện tử và quy định rõ các địa điểm trong từng bước, từng khâu của thủ tục hải quan, gồm: Địa điểm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, Địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa. Việc kiểm tra thực tế hàng hóa được thực hiện tại địa điểm làm thủ tục hải quan hoặc địa điểm khác được Tổng cục Hải quan quyết định.

Ba là, về khai bổ sung
 Điều 22 Luật hiện hành quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trong thông quan, nhưng chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan. Khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế chỉ đề cập đến việc khai bổ sung về thuế sau khi hàng hoá đã được thông quan. Thực tế phát sinh một số trường hợp người khai hải quan có yêu cầu chính đáng được khai bổ sung sau khi hàng hoá đã thông quan mà không ảnh hưởng đến thuế, không ảnh hưởng đến chính sách mặt hàng xong không có cơ sở pháp luật để cơ quan hải quan giải quyết.
Vì vậy, tại khoản 5 Điều 28 Dự thảo Luật đã bổ sung quy định khai bổ sung để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế và thống nhất với Luật Quản lý thuế, khắc phục các vướng mắc trong quá trình thực hiện; phù hợp với các khuyến nghị tại Công ước Kyoto và Luật Hải quan một số nước như Cộng đồng Châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản,

Bốn là, về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 25):
Tại Điều 72, Luật Hải quan hiện hành đã có quy định về “tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” phù hợp với Công ước quốc tế về hệ thống hài hoà, mô tả và mã hoá hàng hoá (Công ước HS) mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, nội dung quy định về phân loại hàng hóa chưa đủ bao quát hết các mục đích của việc  phân loại hàng hoá (ngoài phân loại hàng hóa nhằm mục đích thu thuế) còn nhằm đảm bảo thống nhất phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cho các mục đích khác như: xác định xuất xứ và đàm phán thương mại giữa các quốc gia, quản lý hàng hoá cần kiểm soát chuyên ngành
Để khắc phục, tại Điều 25 Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung nội dung về phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; đồng thời quy định trách nhiệm của Bộ Tài chính ban hành Danh mục mã số hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thống nhất trong toàn quốc phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Năm là, về thông quan hàng hóa (Điều 36), giải phóng hàng (Điều 35):
Luật Hải quan hiện hành chưa phân biệt “thông quan” với giải phóng hàng” mà đều dùng chung thuật ngữ “thông quan”. Việc sử dụng chung thuật ngữ này dẫn đến bất cập trong quá trình thực hiện Luật như sau: (i) Chưa có chế độ quản lý hải quan cụ thể phân biệt để áp dụng đối với các trường hợp “giải phòng hàng” dẫn đến chưa minh bạch quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp cũng như cơ quan hải quan khi hàng hóa mới chỉ được “giải phóng” mà chưa “thông quan”; (ii) Việc cho phép đưa hàng về bảo quản khi chưa xác định mặt hàng đó có được phép nhập khẩu hay không tiềm ẩn rủi ro như tẩu tán, tự ý tiêu thụ hàng hóa.
Theo khoản 11 Điều 4 Luật Hải quan hiện hành thì thông quan là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh. Tuy nhiên, thực tế đối với phương tiện vận tải thì việc cho phép xuất cảnh, nhập cảnh thuộc thẩm quyền của cảng vụ theo quy định của Luật Hàng hải. Luật Hải quan hiện hành cũng chỉ quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện mà không quy định trường hợp nào cơ quan hải quan cho phép hoặc không cho phép phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.
Theo Điều 25 Luật Hải quan hiện hành chưa quy định rõ việc thông quan hay không đối với trường hợp: Được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số thuế phải nộp; Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không.
Để khắc phục, Dự thảo Luật đã bổ sung khoản 14, 16 Điều 4 về khái niệm “giải phóng hàng” và “thông quan” để đảm bảo tính minh bạch; đồng thời bổ sung quy định tại Điều 35 về giải phóng hàng và Điều 36 về thông quan để tách bạch cơ chế áp dụng đối với từng trường hợp hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở tham khảo quy định tại Công ước Kyoyo và Luật Hải quan một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản.

2.4. Nhóm vấn đề liên quan đến kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan
Theo Luật Hải quan hiện hành, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương. Mô hình tổ chức bộ máy hiện hành đang bộc lộ một số hạn chế, khó khăn như:  do phạm vi quản lý bị chia tách theo từng địa bàn tỉnh, thành phố nên việc đầu tư bị phân tán, dàn trải; việc xử lý, chia sẽ dữ liệu thông tin cũng gặp nhiều khó khăn; Việc bố trí biên chế, lực lượng bị phân tán nên hạn chế về năng lực và thẩm quyền trong một số lĩnh vực nghiệp vụ đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo thống nhất, kịp thời trong một số lĩnh vực chuyên sâu như chống buôn lậu, chống ma túy, kiểm tra sau thông quan…;  việc tổ chức cấp Cục hải quan gắn với địa giới hành chính (tỉnh, liên tỉnh) không thực sự bảo đảm tính linh hoạt, chủ động trong việc sắp xếp, tổ chức lại, thành lập các đơn vị hải quan mới (chia tách hoặc sáp nhập) phù hợp với quy mô hoạt động, đặc điểm từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu quản lý của hải quan trong những giai đoạn phát triển khác nhau.
 Để khắc phục, tại Điều 14 Dự thảo Luật về hệ thống tổ chức hải quan dự kiến bỏ cụm từ “ tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”; theo đó, hệ thống tổ chức hải quan như sau:
   - Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:
   a) Tổng cục Hải quan;
   b) Cục Hải quan;
   c) Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.
   Hệ thống tổ chức của Hải quan theo phương án này sẽ tạo điều kiện để bảo đảm hiệu quả trong việc bố trí nguồn nhân lực, vật lực; phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan, khắc phục được những hạn chế đặt ra hiện nay. Cụ thể, hệ thống tổ chức của Hải quan được xây dựng theo hướng không phụ thuộc vào địa giới hành chính mà phụ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu, đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu quản lý của hải quan. Như vậy có Cục Hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, có Cục hải quan nằm trong địa giới nhiều tỉnh, cũng có thể có 2 Cục hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
 
V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN
(Sẽ được cập nhật sau khi gửi dự án Luật xin ý kiến các bộ ngành và thẩm định của Bộ Tư pháp)
Trên đây là một số nội dung cơ bản của Dự án Luật Hải quan (sửa đổi). Bộ Tài chính trình Chính phủ cho ý kiến để Ban soạn thảo tiếp tục hoàn chỉnh dự án Luật trình Quốc hội xem xét cho ý kiến./.
 (Trình kèm theo đầy đủ Hồ sơ theo quy định tại Điều 37 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật)
 
Nơi nhận:
- Như trên;
- Thủ tướng CP, các  Phó TTg;
- Các Uỷ ban của Quốc hội: TCNS, PL;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT, PC.
 
 
 
BỘ TRƯỞNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
1BỘ TÀI CHÍNH
 
 
DỰ THẢO
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
1 

                        Hà Nội, ngày 18  tháng 3  năm 2013
 
 
BÁO CÁO
Đánh giá tác động của dự thảo Luật Hải quan sửa đổi.
1
  
 A – XÁC ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG THỂ CẦN GIẢI QUYẾT
            I. Bối cảnh ban hành Luật hải quan sửa đổi
 Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 29.6.2001, có hiệu lực từ ngày 1.1.2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005, có hiệu lực thi hành từ 1.1.2006 (dưới đây gọi chung là Luật Hải quan). Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia đạt được kết quả quan trọng sau:

Một là, Luật Hải quan đã tạo khung pháp lý cao, nhiều nội dung quan trọng, cơ bản đồng bộ với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập giai đoạn 2001 đến nay; góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan và hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan, chuyển một bước từ phương thức quản lý thủ công sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và thủ tục hải quan điện tử.
Các thủ tục hành chính về hải quan đã được quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản, thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh được thông quan với thời gian và chi phí giảm đi đáng kể, góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều khâu trung gian không cần thiết đã được loại bỏ; thời gian tiến hành thủ tục hải quan được rút ngắn; các giấy tờ người khai Hải quan phải nộp phải xuất trình được giảm bớt. Chế độ ưu tiên làm thủ tục hải quan đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan đã bước đầu được thực hiện. Từ 2009 đến nay, ngành Hải quan cũng đã hoàn thành việc rà soát, hệ thống hoá và công khai 239 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 127 thủ tục hành chính, ước giảm hơn chi phí tuân thủhàng trăm tỷ đồng mỗi năm.
Phương thức quản lý hải quan hiện đại được từng bước áp dụng nhằm đáp ứng, phục vụ tình hình phát triển kinh tế đối ngoại; chuyển dần thủ công sang hiện đại, thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, áp dụng các biện pháp kiểm tra, kiểm soát gián tiếp bằng thu thập, xử lý thông tin, “giảm tiền kiểm” chuyển sang “hậu kiểm”. Tỷ lệ kiểm tra hàng hoá, năm 2005: miễn kiểm tra 40,2%; kiểm tra thực tế 59,8%; đến tháng 31/12/2012, tỷ lệ /miễn kiểm tra (phân luồng xanh) 63,25%; tỷ lệ kiểm tra hồ sơ (phân luồng vàng) 25,29%; tỷ lệ kiểm tra thực tế (phân luồng đỏ) 11,46% (giảm 88,54% so với năm 2000). Qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh qua các năm (kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2010 đạt 157 tỷ USD tăng 23,6%, 2011 đạt 203,1 tỷ USD tăng 29,7%, 2012 đạt 228,3 tỷ USD tăng 12,1% so với năm trước).

Hai là, Luật Hải quan đã tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của cơ quan Hải quan trong phòng chống buôn lậu,vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chủ quyền đất nước.
Trách nhiệm, thẩm quyền, nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan của cơ quan Hải quan được quy định đầy đủ hơn. Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chủ trì phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Ngoài địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan phối hợp với các lực lượng chức năng phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Nhiều giải pháp đồng bộ phòng, chống buôn lậu trong và ngoài địa bàn hoạt động hải quan; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới đã được thực hiện có kết quả. Công tác phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng tích cực, hiệu quả. Số vụ vi phạm phát hiện, bắt giữ và xử lý của toàn ngành Hải quan qua các năm như sau: năm 2010 – 11.150 vụ, thu nộp ngân sách 68.100 triệu đồng; năm 2011 – 18.666 vụ, thu nộp ngân sách 158.338 triệu đồng; năm 2012 – 23.268 vụ, thu nộp ngân sách 240.087 triệu đồng. Từ năm 2010 - 2012, Ngành Hải quan đã khởi tố 30 vụ, chuyển cơ quan khác khởi tố 198 vụ vi phạm.

Ba làLuật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để ngành Hải quan thực thi nhiệm vụ thu đúng, thu đủ các sắc thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thu khác vào ngân sách quốc gia.
Luật đã quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý, thu, nộp thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ chế người khai hải quan tự khai, tự tính, tự nộp thuế, tự chịu trách nhiệm về nội dung kê khai thuế; ân hạn thuế gắn với yêu cầu chấp hành tốt pháp luật được áp dụng. Qua đó thu về thuế từ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được bảo đảm, ngành Hải quan cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách nhà nước giao hàng năm. (Năm 2008 số thu là 125.517 tỷ đồng, đến năm 2012 số thu đã là 197.845 tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần).

Bốn làLuật Hải quan đã đáp ứng được yêu cầu từng bước hội nhập kinh tế quốc tế ở thời điểm ban hành và có hiệu lực.
Luật đã tạo điều kiện thuận lợi để triển khai Hiệp định cơ chế một cửa ASEAN 2005; Khung tiêu chuẩn đảm bảo an ninh thương mại toàn cầu (FOS) của Tổ chức Hải quan thế giới; Công ước về hỗ trợ hành chính lẫn nhau về vấn đề hải quan (Công ước Johanesburg); Công ước vận tải đường bộ quốc tế (Công ước TIR). Thực hiện các cam kết trong ASEAN về thủ tục hải quan, như: Hành lang xanh; Tờ khai chung ASEAN; Danh mục biểu thuế chung ASEAN,... Triển khai thực hiện các nội dung liên quan của Hiệp định giữa Chính phủ các nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hoá và người qua lại biên giới trong khuôn khổ Hợp tác Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (Hiệp định GSM); tăng cường liêm chính cho cán bộ, công chức Hải quan theo Tuyên bố Arusha về liêm chính hải quan của Tổ chức Hải quan Thế giới.

Năm là, Luật Hải quan đã tạo cơ sở để xây dựng, kiện toàn tổ chức, bộ máy, lực lượng Hải quan Việt Nam từng bước hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả; công chức Hải quan ngày càng được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất, với định hướng phát triển nhằm ngang tầm với Hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Đáng chú ý trong số đó là:
- Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng cường hợp tác hải quan và hội nhập Hải quan quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế song phương, đa phương; theo đó, đã thực hiện hoạt động kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng, kiểm tra hàng hóa từ nước xuất khẩu; cử cán bộ hải quan ra nước ngoài thu thập thông tin, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận hải quan nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động tương ứng. Luật hiện hành chưa quy định nội dung này; Mặt khác,  đối chiếu với các chuẩn mực Hải quan quốc tế, Luật Hải quan Việt Nam đã có những điểm chưa được nội luật hoặc nội luật chưa đầy đủ từ khái niệm đến các quy định quản lý Hải quan mới theo công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới cũng như các chế định để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN…
- Luật chưa tạo điều kiện pháp lý cao cho việc hiện đại hóa hải quan mà trước hết là triển khai rộng rãi, phổ biến thủ tục Hải quan điện tử; chưa quy định thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa gia công, hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu trong khi thực tế các loại hình này phát triển mạnh và được Luật thương mại, các luật Thuế quy định.
- Các quy định về thủ tục Hải quan hoạt động kiểm tra giám sát hành chính từ hồ sơ đến khai hải quan, việc áp dụng chế độ quản lý Hải quan đối với các loại hình hàng hóa XNK; các quy định về địa điểm làm thủ tục làm Hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát hải quan đối với hàng hóa XNK và thông quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trong Luật hiện hành chủ yếu theo phương thức thủ công truyền thống đã bộc lộ những bất hợp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình nghiệp vụ và tiến trình hiện đại hóa hải quan.
Luật chưa xác định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong việc kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan hàng hóa nhanh mà vẫn đáp ứng yêu cầu quản lý và chưa quy định về cơ chế một cửa quốc gia trong việc thực hiện thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu; chưa quy định cụ thể về tiêu chuẩn trong việc quy hoạch các khu vực cảng, cửa khẩu nhằm bảo đảm các điều kiện để trang bị máy móc thiết bị phục vụ hoạt quản lý nhà nước tại cảng, cửa khẩu trong đó có công tác hải quan.
- Chưa có quy định về quyền hạn và trách của các tổ chức cá nhân trực tiếp tham gia trong việc quản lý, lưu giữ hàng hóa hóa xuất nhập khẩu như doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Các quy định về phạm vi, biện pháp, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong Luật hải quan hiện hành chưa đầy đủ so với thực tế tổ chức triển khai thực hiện, một số quy định hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật dẫn đến những hạn chế trong hiệu quả hoạt động của công tác này.
- Trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế đối với hàng hóa XNK, các quy định liên quan đến chính sách quản lý thu theo các Luật thuế và Luật Quản lý thuế đã thay đổi chưa được quy định đồng bộ trong luật Hải quan dẫn đến những hạn chế trong công tác tổ chức thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đang có sự tăng trưởng nhanh về kim ngạch hàng năm.

II. Sự cần thiết ban hành luật Hải quan sửa đổi
Việc nghiên cứu sửa đổi Luật Hải quan xuất phát từ các lý do sau:

Một là, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra.
Hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế đã trở thành tất yếu. Luật Hải quan hiện hành phải được sửa đổi để nội luật hóa các chuẩn mực Hải quan Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập như Công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Hiệp định về việc thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và đang tham gia đàm phán các Hiệp định: EVFTA, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, EFTA, TPP,…

Hai là, việc sửa đổi Luật Hải quan tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Luật Hải quan hiện hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 tạo tiền đề áp dụng hải quan điện tử song chưa đảm bảo được cơ sở pháp lý cho việc chuyển hẳn sang áp dụng rộng rãi phổ biến. Trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2005 – 2010 tăng bình quân 25%/năm; năm 2011 tăng 29,7% so với năm 2010; năm 2012 đã đạt được 228,3 tỷ USD bằng 1,68 lần GDP; số lượng tờ khai 2012 đạt 5,18 triệu. Dự kiến đến năm 2020 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 400 tỷ USD; số lượng tờ khai đạt trên 10 triệu tờ khai, đòi hỏi việc thông quan hàng hóa của ngành Hải quan phải có những thay đổi cơ bản để đáp ứng trong khi đó về cơ bản các quy định trong Luật Hải quan hiện hành vẫn quy định thực hiện theo phương thức thủ công truyền thống từ việc quy định hồ sơ hải quan, khai hải quan đến thông quan. Vì vậy, việc ban hành Luật Hải quan sửa đổi hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến Hải quan điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại trong chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn mới.

Ba là, từ yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả.
 Thời gian qua cải cách hành chính mà trước hết là cải cách thủ tục hành chính trong các hoạt động quản lý nhà nước trong đó có cải cách thủ tục hải quan đã được khởi động và thu được kết quả tích cực. Cải cách thủ tục hải quan những năm qua đã mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế, góp phần giảm thời gian và chi phí thủ tục tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các kết quả ấy cần được phải được củng cố bằng pháp luật. Luật Hải quan sửa đổi nhằm hướng tới mục tiêu ấy.
Bốn là, để tạo môi trường pháp luật thống nhất và đồng bộ áp dụng trong nền kinh tế và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hải quan hiện hành
Từ ngày Luật Hải quan ban hành đến nay nhiều pháp luật liên quan đã được ban hành mới hoặc sửa đổi; trong đó có Luật Biển Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Thanh tra, Luật Quản lý thuế và nhiều luật khác đòi hỏi Luật Hải quan phải có sửa đổi; đồng thời với đó là khắc phục những hạn chế, bất cập qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật Hải quan đã chỉ ra.

III.  Quan điểm, mục tiêu ban hành Luật hải quan sửa đổi
- Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan sửa đổi là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo an ninh chính trị, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 
-  Mục tiêu xây dựng Dự án Luật:

Một là: Tạo nền tảng pháp luật thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2020-2030 đã được Quốc hội phê duyệt, chiến lược phát triển tài chính, chiến lược phát triển hải quan đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Hải quan; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật hải quan và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận lợi cho tổ chức thực hiện.

Hai là: Sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm góp phần phục vụ chiến lược hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra; phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam mới tham gia nhất là từ khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) ngày 1.7.2007 và chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập sâu, rộng hơn trong giai đoạn tới.

Ba là: Đổi mới các nội dung và các điều Luật theo hướng gia tăng các quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính; cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, tạo thuận lợi thương mại, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, thực hiện hải quan điện tử, một cửa quốc gia tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Bốn là: Nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ an ninh kinh tế; nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan hải quan trong việc thực hiện pháp luật hải quan.
 

 B. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG DỰ THẢO LUẬT HẢI QUAN SỬA ĐỔI
I. Chương I- Quy định chung
1.  Đối tượng áp dụng (Điều 3)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 3 Luật Hải quan hiện hành chỉ quy định đối tượng áp dụng Luật Hải quan là các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
Tuy nhiên, thực tế trong hoạt động xuất khẩu nhập khẩu còn có các tổ chức, cá nhân khác có liên quan như: ngân hàng trong việc thanh toán đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng, người vận chuyển hàng hóa chuyển cửa khẩu trong việc quản lý và bảo quản hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.... Các đối tượng này chưa được quy định là đối tượng áp dụng Luật Hải quan dẫn đến khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, xác định trách nhiệm khi xảy ra thất thoát hàng hóa...
b. Mục tiêu của quy định về đối tượng áp dụng
Để bảo đảm bao quát các đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật Hải quan và hiệu quả của quản lý hải quan.
c. Đánh giá tác động phương án
Tại Điều 3 Dự thảo đã bổ sung đối tượng áp dụng của Luật Hải quan: Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, phương tiện vận tải.
* Tác động tiêu cực
- Đối với Nhà nước:
Chi phí, nguồn lực để soạn thảo, ban hành, tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Chi phí tìm hiểu, thực hiện quy định mới về thủ tục hành chính.
* Tác động tích cực:
- Đối với Nhà nước:
Tăng hiệu quả quản lý nhà nước, được sự đồng thuận của người khai hải quan, người nộp thuế.
- Đối với tổ chức, cá nhân[U1] :
+ Chủ động trước hiệu quả của kế hoạch kinh doanh;
+ Tiết kiệm chi phí tuân thủ thủ tục.
2. Về hoạt động hợp tác quốc tế (Điều  5a)
a. Xác định vấn đề bất cập
 - Khoản 1 Điều 5a Luật Hải quan quy định cơ quan hải quan có trách nhiệm: Thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới.
Thực tế ngoài Tổ chức Hải quan thế giới, Hải quan Việt Nam đang phải thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan tại các tổ chức như ASEAN, APEC, ASEM, GMS,...
- Khoản 1 Điều 65 Luật Hải quan đã đề cập đến việc cơ quan hải quan có quyền tổ chức thu thập thông tin ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan.
Hiện tại hệ thống cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại và đại diện các cơ quan quản lý khác của Việt Nam tại nước ngoài khi cần cũng hỗ trợ tham gia một số vụ việc mà công tác hải quan yêu cầu. Tuy nhiên, do nguồn biên chế có hạn, lĩnh vực không chuyên, quan hệ hợp tác với Hải quan các nước chưa sẵn có, chỉ dựa trên cơ sở vụ việc nên việc tiếp cận không thuận lợi, hiệu quả công việc thấp, thông tin phúc đáp chậm hoặc không có, các mảng việc được theo dõi riêng rẽ thiếu tính tập trung, thống nhất. Ngoài ra, việc một cơ quan khác (không phải là Hải quan) thực hiện các thủ tục liên hệ, tiếp nhận thông tin, trao đổi với một cơ quan Hải quan nước ngoài sẽ ít có được sự sẵn sàng hợp tác có hiệu quả như mong muốn do các yêu cầu về bảo mật và sử dụng thông tin hải quan nêu tại hầu hết các văn kiện hợp tác hải quan.
b. Mục tiêu quy định về hợp tác quốc tế
Để xây dựng mối quan hệ hợp tác với Hải quan các nước, cần có cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan hợp tác với cán bộ hải quan nước ngoài khi đến Việt Nam để xác minh hoạt động, trao đổi thông tin về doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
c. Đánh giá tác động các phương án
Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng
* Tác động tiêu cực
            - Đối với Nhà nước: Giữ nguyên quy định về hợp tác quốc tế về hải quan thì không phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về hải quan và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác động tích cực
- Đối với Nhà nước: Không tốn chi phí soạn thảo, ban hành tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật mới. Không phải cử công chức hải quan ra nước ngoài.
Phương án 2:
Tác động tích cực
- Đối với Nhà nước: Việc cử đại diện Hải quan ở nước ngoài sẽ hỗ trợ có hiệu quả việc hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan hải quan trong các điều ước quốc tế về Hải quan. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, Hải quan các nước đã cử nhiều đại diện Hải quan ra nhiều nước liên quan để làm việc trực tiếp trên cơ sở quan hệ lâu dài do hoạt động quản lý hải quan là một hệ thống có tính chuyên biệt, các nội dung nghiệp vụ có mối liên hệ ràng buộc có tính quốc tế cao.
Tại Điều 6 Dự thảo Luật bổ sung việc Hải quan Việt Nam có trách nhiệm 1. Thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới và tại các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quantại các nước, vùng lãnh thổ; cử đại diện tại các tổ chức, nước, vùng lãnh thổ nêu trên theo quy định của pháp luật về cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện cam kết quốc tế trong lĩnh  vực hải quan;
Tại Điều 6 dự thảo Luật dự kiến quy định theo hướng: Cử công chức hải quan Việt Nam ra nước ngoài thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận cán bộ hải quan nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
3. Về địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 6 Luật Hải quan quy định: Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật.
Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải.
Chính phủ quy định cụ thể phạm vi địa bàn hoạt động hải quan”.
- Quy định nêu trên đã chỉ rõ các địa điểm theo địa chỉ ranh giới xác định; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong phạm vi địa bàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề vướng mắc, đó là:
+ Thủ tục hải quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, nhưng việc giám sát hải quan phải mở rộng các địa điểm khác. Ví dụ: Các tuyến đường vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh đang chịu sự giám sát của hải quan chưa được quy định thuộc địa bàn hoạt động hải quan.
+ Trên thực tế hiện nay, do đặc thù điều kiện kinh tế - xã hội của một số địa phương, ở những thời điểm nhất định, Thủ tướng Chính phủ cho phép một số mặt hàng được xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu phụ hoặc lối mở. Tại những nơi này không có hoạt động xuất nhập khẩu thường xuyên, không có hoạt động của cơ quan hải quan, tuy nhiên khi có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tại đây, cơ quan hải quan phải bố trí lực lượng để làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu theo quy định. Những nơi này chưa được quy định là địa bàn hoạt động hải quan.
+ Một số địa điểm lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như kho bảo quản hàng hóa chờ hoàn thành thủ tục hải quan, khu vực cách ly lưu giữ hàng hóa để thực hiện việc kiểm dịch, nơi tập kết hàng hóa chờ làm thủ tục xuất khẩu... chưa được quy định là địa bàn hoạt động hải quan.
b. Mục tiêu của quy định về địa bàn hoạt động hải quan
Bao quát được hết các địa điểm có diễn ra hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; nơi có hàng hoá, phương tiện vận tải chịu sự giám sát hải quan đang trên đường vận chuyển phù hợp với đề xuất về chế độ bảo thuế.
c. Đánh giá tác động các phương án 
            Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng
* Tác động tiêu cực:
- Đối với Nhà nước:
            Giữ nguyên quy định về địa bàn hoạt động hải quan thì không phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về hải quan.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan khi ra vào địa bàn hoạt động hải quan chưa được rõ ràng.
* Tác động tích cực:
- Đối với Nhà nước: Không tốn chi phí soạn thảo, ban hành, tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Đối với tổ chức, cá nhân: Không tốn chi phí tìm hiểu, thực hiện quy định pháp luật mới.
Phương án 2:
Tại điều 7 Dự thảo Luật dự kiến quy định theo hướng mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan, bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện: ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hiện hành, địa bàn hoạt động hải quan bao gồm địa điểm khác được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, tuyến đường vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan; khu vực được phép lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.
 - Điều 6 Luật hải quan hiện hành quy định "Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải.".
Quy định về địa bàn hoạt động hải quan đã chỉ rõ các địa điểm theo địa chỉ ranh giới xác định, đây là những địa điểm được phép tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu và lưu giữ, vận chuyển hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan. Tuy nhiên, thực tế trên vùng biển có những đặc thù riêng, tại vùng lãnh hải Việt Nam, các tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền đi qua không gây hại. Do đó thời gian qua xảy ra nhiều trường hợp lợi dụng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Mặt khác, ngày 21/6/2012 Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam, theo đó tại khoản 2 Điều 14 Luật này quy định: "Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam".
            Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 47 Luật này cũng quy định: "Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển bao gồm: các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác".
Để bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động kiểm soát hải quan, phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam, bảo đảm chủ động trong hoạt động kiểm soát hải quan, Dự thảo sửa đổi, bổ sung nội dung này tại Điều 7 như sau:
- Tại vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát để ngăn ngừa, xử lý hành vi vi phạm pháp luật hải quan theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.
 
II. Chương II- Nhiệm vụ, tổ chức của hải quan
1. Xác định vấn đề bất cập
Theo Luật Hải quan hiện hành, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.
Mô hình tổ chức bộ máy hiện hành đang bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, đó là:
- Ngành Hải quan đang thực hiện các chương trình cải cách, hiện đại hóa, vì vậy cần xây dựng Hệ thống xử lý dữ liệu tập trung, thống nhất và tăng cường đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị máy móc. Nhưng do phạm vi quản lý bị chia tách theo từng địa bàn tỉnh, thành phố nên việc đầu tư bị phân tán, dàn trải; việc xử lý, chia sẽ dữ liệu thông tin cũng gặp nhiều khó khăn.
- Việc bố trí biên chế, lực lượng bị phân tán nên hạn chế về năng lực và thẩm quyền trong một số lĩnh vực nghiệp vụ đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo thống nhất, kịp thời trong một số lĩnh vực chuyên sâu như chống buôn lậu, chống ma túy, kiểm tra sau thông quan…
Luật Hải quan hiện hành đã xác định: Hải quan được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Hoạt động nghiệp vụ hải quan được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Tính chất công việc tương đối độc lập, theo đó, hoạt động nghiệp vụ không thực sự gắn với đơn vị hành chính theo hệ thống tổ chức hành chính nhà nước mà phụ thuộc vào lưu lượng, quy mô, địa điểm, nơi thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Vì vậy, việc tổ chức cấp Cục hải quan gắn với địa giới hành chính (tỉnh, liên tỉnh) không thực sự bảo đảm tính linh hoạt, chủ động trong việc sắp xếp, tổ chức lại, thành lập các đơn vị hải quan mới (chia tách hoặc sáp nhập) phù hợp với quy mô hoạt động, đặc điểm từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu quản lý của hải quan trong những giai đoạn phát triển khác nhau.
2. Mục tiêu của quy định về nhiệm vụ, tổ chức của hải quan
Vì vậy, để bảo đảm tính chủ động trong việc hình thành tổ chức hải quan độc lập mà không bị giới hạn về địa giới hành chính.
3. Đánh giá tác động các phương án
Do đó, Dự thảo sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức hải quan theo hướng bỏ cụm từ “ tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”; theo đó, hệ thống tổ chức hải quan như sau:
- Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:
a) Tổng cục Hải quan;
b) Cục Hải quan;
c) Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.
Tổ chức theo phương án này sẽ tạo điều kiện để bảo đảm hiệu quả trong việc bố trí nguồn nhân lực, vật lực; phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan. Theo đó, hệ thống tổ chức của Hải quan được xây dựng theo hướng không phụ thuộc vào địa giới hành chính mà phụ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu, đặc thù địa bàn.
Như vậy, sẽ có Cục Hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, có Cục hải quan nằm trong địa giới nhiều tỉnh, cũng có thể có 2 Cục Hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
III. Chương III - Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan
1.     Mục 1. Quy định chung
1.1. Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hải quan (Điều 16, 17)
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật Hải quan chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro” nhưng Khoản 1a Điều 15 Luật Hải quan đã quy định nội dung của thuật ngữ này. Tuy nhiên, tại các Điều 28, 29, 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan làm cho việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.
Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Trong điều kiện thông quan tự động, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Công ước Kyoto sửa đổi tại các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro.
b. Mục tiêu của quy định về quản lý rủi ro
Phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.
c. Đánh giá tác động các phương án
            Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng
* Tác động tiêu cực:
- Đối với Nhà nước:
Phân bổ nguồn lực thiếu hợp lý do phải dàn trải lực lượng để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, chưa xác định được trọng tâm, trọng điểm của đối tượng cần quản lý.
 - Đối với tổ chức, cá nhân:
Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chưa thực sự được tạo thuận lợi do việc xác định trọng tâm, trọng điểm quản lý của cơ quan hải quan chưa triệt để.
* Tác động tích cực:
- Đối với Nhà nước:
Không tốn chi phí soạn thảo, ban hành, tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Không tốn chi phí tìm hiểu, thực hiện quy định pháp luật mới.
 Phương án 2: sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành
Để đảm bảo áp dụng một cách đầy đủ, có hiệu quả các Chuẩn mực nêu trên của Công ước Kyoto sửa đổi, Dự thảo Luật tạiĐiều 16 và Điều 17 đã bổ sung các quy định liên quan đến quản lý rủi ro, bao gồm:
- Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo quản lý nhà[U2]  nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
- Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
- Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm: thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan; đánh giá rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để đề xuất áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
- Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
* Tác động tiêu cực:
- Đối với Nhà nước:
Chi phí soạn thảo, ban hành, tuyên truyền, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Chi phí tìm hiểu, thực hiện quy định mới về nội dung này.
* Tác động tích cực:
- Đối với Nhà nước:
Phân bổ nguồn lực hợp lý hơn do xác định được trọng tâm, trọng điểm của đối tượng cần quản lý.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu được tạo thuận lợi do việc quản lý của cơ quan hải quan đã xác định trọng tâm, trọng điểm rõ ràng hơn. Đồng thời tạo thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa đối với những chủ hàng chấp hành tốt pháp luật hải quan.
1.2. Đại lý làm thủ tục hải quan (Điều 20)
          a. Xác định vấn đề bất cập
          Điều 21 Luật Hải quan hiện hành đã quy định về người đại lý làm thủ tục hải quan theo đó, người đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo uỷ quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
          Luật Hải quan chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan như người khai hải quan và thẩm quyền công nhận đại lý làm thủ tục hải quan.
          b. Mục tiêu quy định về đại lý làm thủ tục hải quan
          Để tạo điều kiện hỗ trợ đại lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, là đối tác hữu hiệu trong quan hệ pháp luật hải quan, qua đó giảm thời gian thông quan cho doanh nghiệp.
          c. Đánh giá tác động phương án đơn giản hóa
          Điều 20 Dự thảo dự kiến sửa đổi, bổ sung quy định về đại lý làm thủ tục hải quan:
          - Quy định rõ điều kiện đại lý làm thủ tục hải quan;
          - Các điều kiện cơ bản của nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan;
          - Làm rõ quyền và nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan;
          - Xác định thẩm quyền công nhận đại lý làm thủ tục hải quan, cấp thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.
          1.3. Địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 17 Luật Hải quan quy định địa điểm làm thủ tục hải quan là trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu, trụ sở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu. Luật cũng quy định việc kiểm tra thực tế hàng hoá có thể thực hiện ở địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định.
Trong quá trình triển khai thủ tục hải quan điện tử, việc tiếp nhận và xử lý tờ khai có thể tiến hành theo mô hình xử lý tập trung tại Cục, hoặc Tổng cục mà không nhất thiết phải thực hiện ở Chi cục. Mặt khác, đối với các địa điểm kiểm tra thực tế ngoài trụ sở hải quan, cần có cơ chế phân cấp để cấp Cục, Chi cục thẩm tra, quyết định công nhận và theo dõi quản lý (ví dụ địa điểm kiểm tra là chân công trình, kho của công trình, nơi sản xuất của doanh nghiệp).
Ngoài ra, Luật Hải quan hiện hành chưa có quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hoá được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hoá xuất nhập khẩu với khu vực chứa hàng hoá nội địa nên khó khăn cho công tác giám sát hải quan.
b. Mục tiêu của quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan
Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu.
c. Đánh giá tác động phương án
Vì vậy, Điều 22 Dự thảo sửa đổi quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan:
- Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ điện tử theo quy định của pháp luật về một cửa quốc gia;
            - Địa điểm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
                + Trụ sở Cục Hải quan;
                + Trụ sở Chi cục Hải quan;
            - Địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa:
            + Địa điểm kiểm tra tập trung;
            + Địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất, công trình, nơi tổ chức hội chợ triển lãm;
            + Địa điểm kiểm tra tại các khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS);
            + Địa điểm kiểm tra chung giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan nước láng giềng tại khu vực cửa khẩu đường bộ.
            Trong trường hợp cần thiết, việc kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có thể được thực hiện tại địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định.
1.4. Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan (Điều 23)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 19 Luật Hải quan quy định về thời hạn công chức hải quan làm thủ tục hải quan, theo đó quy định cụ thể thời hạn kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất 8 giờ làm việc đối với lô hàng kiểm tra một phần, 2 ngày làm việc đối với lô hàng kiểm tra toàn bộ, có thể gia hạn 8 giờ đối với lô hàng lớn, phức tạp. Luật chưa quy định cụ thể thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan.
b. Mục tiêu của quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan
Để bảo đảm tính minh bạch, đồng thời giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
c. Đánh giá tác động các phương án
Dự thảo tại Điều 23 sửa đổi nội dung này như sau:
- Bổ sung quy định kiểm tra hồ sơ phải hoàn thành chậm nhất 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận bộ hồ sơ hải quan;
- Giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá xuống 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan. Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành thì thời hạn kiểm tra thực tế hàng hoá được tính từ thời điểm có kết quả kiểm tra chuyên ngành.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn gia hạn kiểm tra 02 ngày làm việc đối với lô hàng số lượng lớn, phức tạp, nhiều chủng loại. Đồng thời quy định rõ thẩm quyền gia hạn trong tường hợp này là Chi cục trưởng Hải quan nơi làm thủ tục hải quan.
1.5. Hồ sơ hải quan, thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 24)
            1.5.1. Hồ sơ hải quan
            a. Xác định vấn đề bất cập
            Theo quy định tại Điều 22 Luật Hải quan, hồ sơ hải quan gồm 5 loại: tờ khai; hóa đơn thương mại; hợp đồng mua bán; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện cho thấy hợp đồng mua bán hàng hóa là loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ khai hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần để quản lý trong một số trường hợp cần thiết.
b. Mục tiêu của quy định về hồ sơ hải quan
Để đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm bớt giấy tờ không cần thiết cho cá nhân, tổ chức khi làm thủ tục hải quan, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cơ chế 1 cửa quốc gia.
c. Đánh giá tác động các phương án
            Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng
* Tác động tiêu cực:
- Đối với Nhà nước:
+ Không cắt giảm được một số thành phần hồ sơ không cần thiết;
+ Phương thức nộp hồ sơ hải quan hiện tại không phù hợp với điều kiện thông quan điện tử, không khẳng định được uy ín của cơ quan hải quan trong sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý theo chiến lược hiện đại hoá;
+ Đối với các trường hợp trị giá hàng hóa thấp nhưng yêu cầu khai hải quan trên tờ khai chung với quá nhiều tiêu chí là không hợp lý, số thuế thu được (nếu có) không bù đắp được được chi phí hành chính cần thiết trong tổ chức thực hiện thủ tục hải quan.
- Đối với tổ chức, cá nhân:
Tốn kém thời gian, tiền bạc trong việc khai, nộp cũng như lưu trữ hồ sơ hải quan (giảm chi phí chuẩn bị hợp đồng, chi phí nộp hồ sơ kèm theo đối với hàng thuộc luồng xanh)
* Tác động tích cực:
- Đối với Nhà nước: Phương án giữ nguyên không gây tốn kém kinh phí, nguồn lực cho việc tổ chức soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới.
- Đối với tổ chức, cá nhân: không gây tốn kém kinh phí, nguồn lực của doanh nghiệp trong việc tìm hiểu, thực hiện các quy định mới về thủ tục hành chính.
Tính chi phí tìm hiểu, thực hiện quy định mới về thủ tục
Phương án 2: sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành
            Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ hải quan như sau:
- Hồ sơ hải quan gồm:
+ Tờ khai hải quan hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan;
Bộ Tài chính quy định mẫu tờ khai hải quan, việc sử dụng tờ khai hải quan và các chứng từ thay thế tờ khai hải quan.
+ Chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan:
Ngoài tờ khai hải quan, người khai hải quan theo quy định của pháp luật có liên quan phải nộp, xuất trình các chứng từ sau:
+ Hóa đơn thương mại;
+ Chứng từ vận tải;
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa;
+ Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật;
+ Các chứng từ có liên quan đối với từng mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật.
Để thuận lợi cho từng trường hợp, dự thảo quy định Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp phải nộp chứng từ. Việc khai báo, kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hồ sơ hải quan điện tử thực hiện theo cơ chế một cửa quốc gia do Chính phủ quy định.
        1.5.2. Thời hạn nộp hồ sơ hải quan
        a. Xác định vấn đề bất cập
        Điểm a Khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Quy định này không phù hợp với việc thực hiện khai và nộp hồ sơ bằng phương thức điện tử do các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan có dung lượng lớn, làm chậm tốc độ xử lý của hệ thống. Hệ thống cũng chỉ xử lý được các thông tin trên tờ khai, chưa thể xử lý được các thông tin trên chứng từ thuộc hồ sơ hải quan. Như vậy, việc nộp các chứng từ đi kèm tờ khai chỉ cần thiết đối với trường hợp kiểm tra chi tiết hồ sơ để xác định tính chính xác của việc khai hải quan. Việc yêu cầu nộp ngay các chứng từ đi kèm tờ khai khi đăng ký tờ khai đối với trường hợp miễn kiểm tra hồ sơ là không cần thiết, chưa thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
             b. Mục tiêu của quy định về thời hạn nộp hồ sơ hải quan
             Xác định thủ tục hải quan được thực hiện chủ yếu bằng phương thức điện tử, bắt đầu từ việc khai hải quan, tạo cơ sở pháp lý ứng dụng công nghệ thông tin ở mức cao trong quản lý hải quan, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất nhập khẩu đồng thời phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ hải quan quốc tế.
             c. Đánh giá tác động các phương án
             Điều 24 dự thảo sửa đổi nội dung này như sau:
- Người khai hải quan phải nộp tờ khai hải quan trong thời hạn sau đây:
            Hàng hóa xuất khẩu được thực hiện sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm do người khai hải quan thông báo và chậm nhất 08 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
- Đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan
Trường hợp khai hải quan điện tử, khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, người khai hải quan phải nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia. Trường hợp hàng hóa được miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, người khai hải quan phải nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trong vòng 7 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan quyết định thông quan trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia.
Trường hợp khai trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình hồ sơ hải quan khi đăng ký tờ khai hải quan.
            1.6. Phân loại hàng hóa (Điều 25)
a. Xác định vấn đề bất cập
Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước quốc tế về hệ thống hài hoà, mô tả và mã hoá hàng hoá (Công ước HS) từ năm 1998. Đây là hệ thống toàn cầu về phân loại hàng hoá. Việc phân loại hàng hóa trên cơ sở Công ước này được quy định tại Điều 72, thuộc Chương “tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” tại Luật Hải quan hiện hành.
Tuy nhiên, việc phân loại hàng hóa không chỉ nhằm mục đích thu thuế mà còn nhằm đảm bảo thống nhất phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cho các mục đích khác như: xác định xuất xứ và đàm phán thương mại giữa các quốc gia, quản lý hàng hoá cần kiểm soát chuyên ngành… Mặt khác, việc phân loại hàng hoá được thực hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan (kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá) và quá trình kiểm tra sau thông quan.
b. Mục tiêu của quy định về phân loại hàng hóa
Xây dựng chuẩn về phân loại hàng hóa, tạo danh mục hàng hóa thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo, hiểu không đúng về mã gây thất thu thuế.
c. Đánh giá tác động các phương án
Do đó, Dự thảo đã bổ sung khái niệm phân loại hàng hoá tại điều 4 và quy định về phân loại hàng hóa tại Điều 25. Cụ thể:
- Phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc căn cứ vào đặc điểm, thành phần, cấu tạo, tính chất lý, hóa, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hóa để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo quy định của pháp luật.
-  Phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để xác định mã số làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý mặt hàng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ Tài chính ban hành Danh mục mã số hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thống nhất trong toàn quốc phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
- Khi làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra, xác định mã số hàng hóa căn cứ vào hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra hồ sơ, kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa.
1.7. Xác định xuất xứ hàng hóa (Điều 26)
Hiện nay, việc chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu, nước sản xuất thực hiện thông qua việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) để xuất trình cho cơ quan hải quan nước nhập khẩu để kiểm tra.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại tự do thời gian tới Việt Nam sẽ thực hiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam sẽ tham gia dự án thí điểm 2 vào năm 2013 để đảm bảo áp dụng được cơ chế này một cách đầy đủ vào năm 2015 theo như lộ trình cam kết của ASEAN. Trong đó chỉ người sản xuất đủ điều kiện xét duyệt do các nước tham gia thống nhất về một số tiêu chí cơ bản và thông báo cho nước thành viên (về phía Doanh nghiệp Việt Nam,  Bộ Công Thương và Bộ Tài chính sẽ phối hợp để đưa ra tiêu chí cụ thể và lựa chọn doanh nghiệp tham gia) được tự chứng nhận xuất xứ.
Trong khuôn khổ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, đối với hàng nhập khẩu chấp nhận về nguyên tắc áp dụng tự chứng nhận xuất xứ bởi các doanh nghiệp xuất khẩu tại các nước thuộc Hiệp định ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực. Dự kiến sẽ thực hiện vào năm 2014.
Bên cạnh đó, trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU ( EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Khối thương mại tự do châu Âu(EFTA) bao gồm Thụy Sỹ, Na Uy, Ai-xơ-len, Lét-xơ-ten-tên, cho phép nhà xuất khẩu đủ điều kiệnđược tự chứng nhận xuất xứ.
Về kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa: Trong tất cả các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đang tham gia hiện nay đều có điều khoản cho phép cơ quan hải quan ra nước ngoài điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa. Trong thời gian tới khi áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ thì ngoài việc phải nâng cao năng lực của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa thì cơ quan hải quan phải điều tra, xác minh xuất xứ tại nước sản xuất, xuất khẩu thường xuyên hơn. 
Tuy nhiên, Luật Hải quan hiện hành chưa có quy định về việc cơ quan hải quan chấp nhận cơ chế tự chứng nhận xuất xứ  của người xuất khẩu, người sản xuất cũng như việc cơ quan hải quan tiến hành điều tra, xác minh xuất xứ tại nước xuất khẩu, sản xuất.
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc cơ quan hải quan chấp nhận việc tự chứng nhận xuất xứ của người xuất khẩu, người sản xuất và cử cán bộ hải quan điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước xuất khẩu, sản xuất, việc sử dụng kết quả xác minh, điều tra để áp dụng ưu đãi thuế quan, chính sách quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan hải quan trong việc xác định xuất xứ hàng hóa, :
c. Đánh giá tác động các phương án
Tại Điều 26 Dự thảo đã quy định
-  Người khai hải quan chịu trách nhiệm khai xuất xứ hàng hóa và cung cấp các chứng từ để xác định xuất xứ hàng hóa theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan hải quan xác định xuất xứ hàng hóa trên cơ sở khai báo của người khai hải quan, giấy chứng nhận xuất xứ, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có thể được phát hành bởi cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu hoặc do người sản xuất, người xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ theo các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
- Trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan tiến hành điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước sản xuất hàng hóa theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Kết quả điều tra, xác minh xuất xứ được cơ quan hải quan sử dụng làm căn cứ để quyết định cho hưởng các ưu đãi, áp dụng các chính sách quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu.
1.8. Xác định mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trị giá đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 26)
a. Xác định vấn đề bất cập
Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) khuyến nghị cơ quan Hải quan cho  phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu. Đây là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan.
Hiện nay, dự thảo Luật quản lý thuế đã bổ sung nội dung về quy định xác định trước. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế chỉ điều chỉnh đối với các vấn đề về thuế.
b. Mục tiêu của quy định về mã số, xuất xứ, xác định trị giá
Việc xác định trước về mã số, xuất xứ không chỉ để xác định trước về thuế mà còn để có cơ sở áp dụng chính sách quản lý mặt hàng, áp dụng các yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế.
c. Đánh giá tác động các phương án
Do đó, Dự án Luật bổ sung khái niệm và việc xác định trước mã số, xác định trước trị giá tính thuế, xác định trước xuất xứ hàng hoá vào các  Điều 4 Dự thảo (Giải thích từ ngữ) và Điều 18, 19 Dự thảo các nội dung về quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan; nhiệm vụ quyền hạn của công chức hải quan trong việc thực hiện phân loại trước để bao quát toàn bộ hoạt động xác định trước trong lĩnh vực hải quan. Ngoài ra, tại Điều 27 Dự thảo quy định cụ thể về thủ tục xác định trước mã số, xác định trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quanCụ thể:
- Trước khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan cung cấp các thông tin, chứng từ liên quan hoặc mẫu hàng dự kiến sẽ xuất khẩu, nhập khẩu cho cơ quan hải quan và đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu.  
- Cơ quan hải quan căn cứ vào các quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa, xuất xứ, trị giá hải quan và các thông tin, chứng từ hoặc mẫu hàng hóa do người khai hải quan cung cấp để xác định mã số, xác nhận xuất xứ, xác định trị giá hải quan và có văn bản thông báo cho người khai hải quan kết quả xác định trước. Trong trường hợp không đủ cơ sở hoặc thông tin để xác định theo yêu cầu của người khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo cho người khai hải quan hoặc đề nghị bổ sung thêm thông tin, tài liệu.
-  Văn bản thông báo kết quả xác định trước là văn bản có thời hạn hiệu lực nhất định có giá trị sử dụng để khai hải quan và làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, tài liệu hoặc mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.
1.9. Khai hải quan (Điều 28)
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật Hải quan hiện hành cơ bản được xây dựng trên cơ sở thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức truyền thống, người khai hải quan trực tiếp nộp hồ sơ giấy và cơ quan hải quan trực tiếp kiểm tra bằng mắt thường. Tuy nhiên, với việc triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan và quản lý hải quan, việc sửa đổi Luật Hải quan được xác định trên cơ sở trụ cột là thủ tục hải quan được thực hiện chủ yếu bằng phương thức điện tử.
b. Mục tiêu của quy định về khai hải quan
Giảm bớt thời gian và chi phí làm thủ tục hải quan cho cả người khai hải quan và cơ quan hải quan, tạo thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa nhanh chóng.
c. Đánh giá tác động các phương án
Do vậy, tại khoản 3 Điều 28 Dự thảo quy định:
Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử. Chỉ đối với một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủngười khai hải quan được khai trên tờ khai hải quan giấy
Về khai bổ sung, huỷ tờ khai
Điều 22 Luật Hải quan quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trong thông quan, nhưng chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan. Khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế chỉ đề cập đến việc khai bổ sung về thuế sau khi hàng hoá đã được thông quan. Thực tế phát sinh một số trường hợp người khai hải quan có yêu cầu khai bổ sung sau khi hàng hoá đã thông quan nhưng không ảnh hưởng đến thuế, không ảnh hưởng đến chính sách mặt hàng nên không có cơ chế để cơ quan hải quan xem xét, giải quyết.
Dự án Luật bổ sung nội dung này để bảo đảm tính thống nhất với Luật Quản lý thuế và giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực tế thực hiện;  tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.
Trên cơ sở tham khảo quy định tại Công ước Kyoto và Luật Hải quan một số nước như Cộng đồng Châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, Điều 28 Dự án Luật sửa đổi, bổ sung quy định về khai hải quan như sau:
- Về khai bổ sung:
Người khai hải quan có căn cứ xác định có sai sót trong việc khai hải quan thì được khai bổ sung trong các trường hợp sau:
+ Trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hoá;
+ Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định thực hiện kiểm tra sau thông quan, thanh tra tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng; trừ trường hợp nội dung khai bổ sung liên quan đến chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Quá thời hạn nêu tại điểm a, b khoản này mà người khai hải quan mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan và khai bổ sung thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
            1.10. Đăng ký tờ khai hải quan (Điều 28)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 28 Luật Hải quan hiện hành chỉ quy định về việc kiểm tra hồ sơ trước khi đăng ký tờ khai hải quan mà chưa quy định rõ địa điểm, thời điểm đăng ký tờ khai hải quan; trong khi thời điểm đăng ký tờ khai là căn cứ để xác định chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hoá XNK theo quy định của pháp luật thuế, pháp luật về quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Việc không quy định rõ địa điểm được đăng ký tờ khai dẫn đến tình trạng hàng về một cửa khẩu nhưng thủ tục hải quan lại được thực hiện ở một cửa khẩu khác, khó khăn trong công tác quản lý hải quan.
b. Mục tiêu của quy định về đăng ký tờ khai hải quan
Bảo đảm tính minh bạch và khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tế. Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
c. Đánh giá tác động các phương án
Dự thảo Luật tại Điều 29 quy định:
Tờ khai hải quan được đăng ký tại:
- Đối với phương thức điện tử theo quy định của pháp luật về hệ thống một cửa quốc gia;
- Đối với phương thức khác:
+ Địa điểm làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nơi hàng đến;
+ Địa điểm làm thủ tục hải quan nơi hàng hoá được chuyển cửa khẩu đến;
- Địa điểm làm thủ tục hải quan nơi lưu giữ hàng hóa.
Phương thức đăng ký tờ khai:
- Tờ khai điện tử được đăng ký theo phương thức điện tử;
- Tờ khai giấy được đăng ký trực tiếp tại cơ quan hải quan.
Tờ khai hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan chấp nhận việc khai báo của người khai hải quan. Thời điểm đăng ký được ghi trên tờ khai hải quan.
Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan phải thông báo lý do bằng văn bản hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.
          1.11. Kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan (Điều 30 đến 33)
  a. Xác định vấn đề bất cập
          - Điều 28, 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra, được miễn kiểm tra đã làm cho việc xác định đối tượng kiểm tra thực hiện theo phương thức cứng nhắc, hạn chế việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro;
   - Khoản 1 Điều 29 Luật Hải quan quy định căn cứ để quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để thông quan, chưa phù hợp với chuẩn mực 6.3 và 6.4 của Công ước Kyoto;
          - Tham khảo Luật hải quan một số nước tiên tiến như Nhật Bản, Newzealand thì việc phân loại hồ sơ để kiểm tra chủ yếu thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Hệ thống quản lý rủi ro được cơ quan hải quan xây dựng theo bộ tiêu chí phù hợp với chính sách mặt hàng, cơ chế điều hành xuất nhập khẩu, cơ sở phân loại doanh nghiệp…
  b. Mục tiêu của quy định về kiểm tra hải quan
Để đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, trên cơ sở phương thức quản lý hiện đại, phù hợp với thủ tục hải quan điện tử.
c. Đánh giá tác động các phương án
          Tại các điều từ 30 đến 33 Dự án Luật:
            -   Quy định rõ thẩm quyền quyết định việc kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa phù hợp với việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử;
            - Quy định nội dung kiểm tra hồ sơ;
          - Quy định kiểm tra thực tế hàng hóa: Dự án Luật quy định các trường hợp được miễn kiểm tra thực tế nhưng có điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro. Theo đó:
+ Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa được áp dụng đối với: Hàng hoá cứu trợ khẩn cấp; hàng hoá chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh; hàng hoá thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+ Đối với hàng hóa khác, việc kiểm tra của cơ quan hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.
          - Bổ sung quy định Việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng theo thỏa thuận đã ký giữa các bên.
- Bổ sung quy định việc kiểm tra vắng mặt người khai hải quan thông qua việc kiểm tra không xâm nhập qua máy soi, thiết bị kỹ thuật, biện pháp nghiệp vụ khác để tạo cơ sở pháp lý giúp cơ quan hải quan chủ động phát hiện vi phạm đưa ra biện pháp xử lý kịp thời (Điều 33).
1.12. Trách nhiệm của các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra hải quan (Điều 34)
  a. Xác định vấn đề bất cập
- Việt Nam đã ký kết thực hiện Hiệp định về Cơ chế một cửa ASEAN. Để triển khai cơ chế một cửa ASEAN cần thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, theo đó các Bộ, Ngành có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến việc cấp phép, kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan hải quan để làm thủ tục hải quan.
- Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa được thông quan, ngoài việc chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan còn chịu sự kiểm tra của các cơ quan quản lý chuyên ngành theo quy định của các luật khác có liên quan như: kiểm dịch (Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực phẩm), kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (Luật vệ sinh an toàn thực phẩm), kiểm tra chất lượng (Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa). Các văn bản pháp luật này có quy định cho phép đưa hàng hóa ra ngoài khu vực cửa khẩu để kiểm tra hoặc chờ kết quả kiểm tra. Trong trường hợp này cơ quan hải quan không thể thực hiện việc giám sát hàng hóa.
b. Mục tiêu của quy định về trách nhiệm của các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra hải quan
Quy định trách nhiệm của chủ hàng và các cơ quan liên quan trong việc bảo quản, lưu giữ hàng hóa cho đến khi thông quan, tránh việc tự ý tiêu thụ hàng hóa trước khi có kết luận kiểm tra hoặc khi kết luận kiểm tra xác định không đủ điều kiện nhập khẩu.
c. Đánh giá tác động các phương án
Vì vậy, tại Điều 34 Dự thảo quy định:
- Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.
Trường hợp theo quy định của pháp luật phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật đối với hàng hoá, phương tiện vận tải thì cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra hoặc sử dụng kết quả kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu và chịu sự giám sát hải quan cho đến khi được thông quan, trừ trường hợp pháp luật cho phép đưa về các địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành.
 Người khai hải quan chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại các địa điểm nêu trên cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.
Trường hợp hàng hoá được đưa về địa điểm kiểm tra theo yêu cầu quản lý chuyên ngành thì cơ quan quản lý chuyên ngành chịu trách nhiệm giám sát hàng hoá cho đến khi hàng hoá được thông quan.
Trường hợp hàng hóa được làm thủ tục thông quan thông qua hệ thống một cửa quốc gia thì việc thông báo, tiếp nhận và xử lý kết quả kiểm tra thực hiện theo quy định của Chính phủ về cơ chế một cửa quốc gia.
- Chi cục trưởng Hải quan chủ trì phối hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan nhanh chóng hàng hoá, phương tiện vận tải.
1.13. Giải phóng hàng, Thông quan hàng hóa (Điều 35, 36)
a. Xác định vấn đề bất cập
- Luật Hải quan hiện hành chưa phân biệt “thông quan” với “giải phóng hàng” mà đều dùng chung thuật ngữ “thông quan”. Việc sử dụng chung thuật ngữ này dẫn đến bất cập trong quá trình thực hiện Luật như sau:
          + Chưa có chế độ quản lý hải quan cụ thể phân biệt để áp dụng đối với các trường hợp “giải phòng hàng” dẫn đến chưa minh bạch quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp cũng như cơ quan hải quan khi hàng hóa mới chỉ được “giải phóng” mà chưa “thông quan”.
          + Việc cho phép đưa hàng về bảo quản khi chưa xác định mặt hàng đó có được phép nhập khẩu hay không tiềm ẩn rủi ro như tẩu tán, tự ý tiêu thụ hàng hóa.
          Khoản 11 Điều 4 Luật Hải quan hiện hành thì thông quan là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh.
Tuy nhiên, thực tế đối với phương tiện vận tải thì việc cho phép xuất cảnh, nhập cảnh thuộc thẩm quyền của cảng vụ theo quy định của Luật Hàng hải. Luật Hải quan hiện hành cũng chỉ quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện mà không quy định trường hợp nào cơ quan hải quan cho phép hoặc không cho phép phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.
Điều 25 Luật Hải quan hiện hành chưa quy định rõ việc thông quan hay không đối với trường hợp: Được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số thuế phải nộp; Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không.
  b. Mục tiêu của quy định về giải phóng hàng, thông quan
Quy định rõ việc thông quan hay không đối với trường hợp: Được tổ chức tín dụng bảo lãnh về số thuế phải nộp; Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không.
c. Đánh giá tác động các phương án
          Trên cơ sở tham khảo quy định tại Công ước Kyoyo và Luật Hải quan một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, Dự thảo bổ sung 01 Điều quy định về giải phóng hàng và sửa đổi, bổ sung quy định về thông quan như sau:
 - Giải phóng hàng:
            Giải phóng hàng áp dụng đối với hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu nhưng chờ xác định giá; phân tích, trưng cầu giám định để xác định số thuế phải nộp sau khi người khai hải quan đã nộp khoản bảo đảm số tiền thuế phải nộp (bảo lãnh, đặt cọc hoặc các hình thức khác).
          - Thông quan: áp dụng đối với hàng hoá đã hoàn thành thủ tục hải quan (kể cả trường hợp được áp dụng thời hạn nộp thuế do có bảo lãnh về số thuế phải nộp).
- Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không, cơ quan hải quan chỉ cho phép thông quan hàng hóa khi đã xác định hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định hoặc thông báo miễn kiểm tra của cơ quan quản lý chuyên ngành.
          2. Mục 2. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật Hải quan hiện hành chưa quy định. Nội dung này hiện đang được thực hiện thí điểm theo Thông tư số 63/2011/TT-BTC, được các doanh nghiệp quan tâm, mong muốn được thực hiện.
b. Mục tiêu của quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật tốt, doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, chế độ quản trị tốt được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi.
c. Đánh giá tác động các phương án
Dự thảo bổ sung quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp đủ điều kiện. Riêng đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ngoài các ưu tiên chung còn được ưu tiên thực hiện đồng thời khai vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan với khai hải quan xuất khẩu, nhập khẩu.
Quy định này phù hợp với khung tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới, Công ước KYOTO sửa đổi (chuẩn mực chuyển tiếp 3.32) và Luật Hải quan các nước như Úc, Canada, Mexico, Thụy Điển....
Cụ thể:
- Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp (Điều 37)
+ Miễn kiểm tra hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.
+ Được làm thủ tục hải quan bằng tờ lược khai hoặc chứng từ thương mại; hoàn chỉnh tờ khai, bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn quy định.
+ Được ưu tiên về khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều kiện được công nhận ưu tiên về thuế thực hiện theo pháp luật về thuế.
- Điều kiện được áp dụng chế độ ưu tiên;
+ Có quá trình tuân thủ tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế;
+ Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm đạt mức quy định;
+ Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử; có chương trình công nghệ thông tin quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp nối mạng với cơ quan hải quan;
+ Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;
+ Có hệ thống kiểm soát nội bộ rõ ràng đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định;
+ Doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài có quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam đáp ứng các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiêu theo quy định của Luật này và thuộc quốc gia đã ký thỏa thuận về công nhận doanh nghiệp ưu tien lẫn nhau với Việt Nam.
+ Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán.
          3. Mục 3. Giám sát hải quan
          a. Xác định vấn đề bất cập
          Theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan, giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan hải quan nhằm đảm bảo nguyên trạng hàng hóa, phương tiện vận tải thuộc đối tượng quản lý của hải quan. Điều 26 Luật Hải quan quy định đối tượng giám sát, thời gian giám sát, phương thức giám sát, trách nhiệm Hải quan, chủ hàng, người điều khiển phương tiện.
          Mặt khác, do khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được lưu giữ và ra vào các khu vực cảng, cửa khẩu rất lớn nên với phương thức giám sát như quy định hiện hành khó có thể thực hiện được. Trong khi đó, các doanh nghiệp có liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… tuy tham gia vào quá trình vận chuyển, lưu giữ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu nhưng chưa được quy định trách nhiệm giám sát đối với loại hàng hóa này.
          Theo quy định tại phụ lục chuyên đề A Công ước KYOTO có quy định trách nhiệm cụ thể đối với người vận chuyển, trách nhiệm của  chủ kho lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
  b. Mục tiêu của quy định về giám sát hải quan
          Việc đặt ra mục đích giám sát để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan đảm bảo phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan hiện đại.
          c. Đánh giá tác động các phương án
          Tham khảo Công ước nêu trên, khoản 10 Điều 4 và tại Mục 3 Chương II Dự thảo Luật quy định về giám sát hải quan với nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
            - Giám sát hải quan là biện pháp theo dõi, quan sát mang tính chủ động của cơ quan hải quan để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá hoặc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hoá, bảo đảm phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của luật.
- Đối tượng giám sát (Điều 41): hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; phương tiện vận tải nội địa chuyên chở hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
- Phương pháp giám sát (Khoản 1 Điều 42): ngoài các phương thức giám sát như Luật hiện hành; bổ sung phương pháp kiểm tra hồ sơ hải quan, sổ sách, chứng từ liên quan đến hàng hóa, phương tiện vận tải vào, ra các khu vực tập kết, lưu giữ hàng hóa của thương nhân kinh doanh kho bãi, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.
- Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro để cơ quan hải quan quyết định phương thức giám sát phù hợp.
- Thời gian giám sát (Khoản 2 Điều 42)
+ Hàng hoá nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi hàng hóa tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
Hàng hoá xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
            - Tại các Điều 43, Điều 44, Điều 45 Dự thảo bổ sung quy định: Trách nhiệm của cơ quan hải quan; trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải trong giám sát hải quan; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng trong giám sát hải quan.
            4. Từ Mục 4 đến Mục 8  (từ Điều 46 đến Điều 74 ) quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với một số loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cụ thể:
a. Xác định vấn đề bất cập
- Luật Hải quan hiện hành quy định nguyên tắc quản lý hải quan đối với 13 loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển khẩu, quá cảnh (từ Điều 33 đến Điều 49), nhưng còn thiếu đối với một số loại hình như quản lý hải quan đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu, chế xuất, một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu..... chưa được quy định trong Luật, trong khi thực tế các loại hình này phát triển mạnh trong thời gian qua. Vì vậy, cần bổ sung vào Luật để bảo đảm cơ sở pháp lý khi thực hiện.
- Luật hiện hành có quy định về thủ tục hải quan nhưng mới chỉ quy định chung về thủ tục hải quan mà chưa quy định thủ tục hải quan, chế độ quản lý hải quan của các loại hình hàng hoá có tính đặc thù (ví dụ như hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất, hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu, hàng đưa vào khu chế xuất, kho thu gom hàng lẻ..). Thực tế đối với các loại hàng hóa này, cần có quy định riêng về chế độ quản lý và thủ tục hải quan cho phù hợp cần thiết được bổ sung để luật hóa khi thực hiện.
- Một số loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan vẫn tiếp tục cần có chế độ quản lý hải quan, theo dõi như hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất, hàng gia công, nguyên liệu nhập sản xuất xuất khẩu. Luật Hải quan hiện hành mới chỉ quy định về thủ tục hải quan, chưa đề cập đến việc chế độ quản lý hải quan sau khi hàng hoá đã làm xong thủ tục nhập khẩu để bảo đảm thực hiện đúng mục đích nhập khẩu, các chính sách thuế, chính sách quản lý mặt hàng.
- Việc chuẩn hóa các chế độ quản lý hải quan và thủ tục hải quan là căn cứ quan trọng để ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi hơn nữa trong thực hiện thủ tục hải quan.
Vì vậy, cần phải sửa đổi nội dung này để bảo đảm cơ sở pháp lý, minh bạch, đơn giản hơn tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện của người khai hải quan và cả cơ quan hải quan.
b. Mục tiêu của quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Để bảo đảm tính minh bạch, thuận lợi trong quá trình thực hiện của người khai hải quan và cả cơ quan hải quan.
c. Đánh giá tác động các phương án
Vì vậy, từ Mục 4 - 8 chương II Dự thảo quy định cụ thể:
- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu;
- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ;
- Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan;
- Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải;
Cụ thể:
Mục 4 - Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
 
Mục này gồm 13 Điều (từ Điều 46 đến Điều 58) được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành đã thực hiện ổn định, có bổ sung một số loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thực hiện ổn định tại văn bản dưới Luật chưa được quy định trong Luật hải quan như:
Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá kinh doanh tạm nhập- tái xuất.
Để bảo đảm quản lý hiệu quả loại hàng hoá này, Dự thảo quy định rõ địa điểm làm thủ tục hải quan, quản lý hải quan đối với loại hàng hoá này. Cụ thể:
+ Hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất phải làm thủ tục hải quan tạm nhập, thủ tục tái xuất tại Chi cục Hải quan tại cửa khẩu tạm nhập. Hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế phải làm thủ tục hải quan tạm nhập tại Chi cục Hải quan tại cửa khẩu tạm nhập.
+ Hàng hóa tạm nhập phải được lưu giữ tại khu vực cửa khẩu hoặc các địa điểm chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.
+ Người khai hải quan chịu trách nhiệm bảo quản nguyên trạng hàng hóa tạm nhập trong suốt quá trình lưu giữ tại Việt Nam.
+ Hàng hóa tạm nhập khẩu phải tái xuất trong thời hạn quy định. Hàng hoá tạm nhập khẩu mà không tái xuất khẩu nếu được chuyển tiêu thụ nội địa thì phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hoá nhập khẩu;
- Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế
Dự thảo quy định rõ: Hàng hoá nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế phải làm thủ tục hải quan tại Chi cục hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế, phải được lưu giữ tại cửa hàng miễn thuế và chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi làm thủ tục hải quan nhập khẩu đến khi thanh khoản.
Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu
Dự thảo bổ sung một số loại hàng hoá được làm thủ tục hải quan theo loại hình này. Cụ thể: Phương tiện quay vòng để chứa hàng hóa; Máy móc thiết bị phục vụ thi công công trình, dự án đầu tư, hoạt động gia công, tài sản đi thuê, cho thuê; Hàng hóa để bảo hành, sửa chữa.
Để minh bạch về thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, Dự thảo cũng quy định rõ Hàng hoá tạm xuất khẩu, hàng hoá tạm nhập khẩu thuộc một tờ khai hải quan có thể được tái nhập khẩu, tái xuất khẩu theo nhiều chuyến hàng thuộc nhiều tờ khai tái nhập, tái xuất.
Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ các yêu cầu khẩn cấp; nhập khẩu chuyên dùng phục vụ an ninh quốc phòng;
Dự thảo bổ sung nội dung quy định:
+ Việc sử dụng tờ lược khai hải quan để thông quan và hoàn chỉnh tờ khai trong thời gian 30 ngày.
+ Hàng hoá chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh có tính bảo mật đặc biệt được miễn khai hải quan và miễn kiểm tra hải quan.
Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo đường bưu chính, chuyển phát nhanh
Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp dự thảo bổ sung nội dung cho phép Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế được khai hàng hoá trong định mức miễn thuế của nhiều chủ hàng trên một tờ khai hải quan.
Kiểm tra giám sát hải quan đối với tài sản di chuyển
Dự thảo bổ sung nội dung quy định mang tính nguyên tắc tài sản di chuyển phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định.
Ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, kim khí quý, đá quý, tiền Việt nam xuất khẩu, nhập khẩu
Thủ tục hải quan đối với ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, kim khí quý, đá quý, tiền Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hiện đang được quy định tại Nghị định 154/2005/NĐ-CP, nay đề nghị đưa vào Luật để bảo đảm minh bạch, thống nhất khi thực hiện.
Hàng hoá trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Dự thảo cơ bản kế thừa quy định tại Luật hiện hành, có bổ sung quy định mang tính nguyên tắc: tài sản di chuyển của cá nhân, gia đình, tổ chức phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan. 
Xử lý hàng hoá tồn đọng
Điều 45 Luật Hải quan hiện hành quy định thời gian xử lý đối với hàng hóa mà chủ hàng tuyên bố công khai từ bỏ, hàng hóa bị nhầm lẫn thất lạc. Luật cũng quy định cơ chế xử lý hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu dỡ hàng mà chưa có người đến nhận, nhưng quy định này chỉ phù hợp với cảng biển và chưa quy định rõ cơ chế xử lý, trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong việc xử lý loại hàng hóa này cũng như chưa có quy định việc xử lý đối với các loại hàng hóa tồn đọng tại một số khu vực thuộc địa bàn kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan, như: cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ, đường sắt, bưu chính,... phải xử lý bằng Thông tư của Bộ Tài chính và một số Bộ, Ngành liên quan.
Dự thảo sửa đổi bổ sung theo hướng quy định cụ thể các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tồn đọng được lưu giữ tại các khu vực kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc xử lý loại hàng hóa này đồng thời rút ngắn thời gian xử lý. Cụ thể:
+ Hàng hoá quá 90 ngày kể từ ngày đến cửa khẩu mà không có người đến nhận thì cơ quan hải quan thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu chủ hàng hoá đến nhận thì được làm thủ tục hải quan và bị xử phạt theo quy định; trường hợp hàng hóa thuộc diện dễ hư hỏng, hàng đông lạnh, hóa chất độc hại, nguy hiểm, hàng sắp hết hạn sử dụng thì thời hạn xử lý là 05 ngày, kể từ ngày thông báo.
+Doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi có trách nhiệm bố trí địa điểm kho, bãi đáp ứng các điều kiện giám sát hải quan để lưu giữ hàng hóa tồn đọng.
+ Hàng hóa tồn đọng được xử lý theo các phương thức sau: Hàng tồn đọng được bán thanh lý, tiền bán hàng được nộp vào ngân sách nhà nước sau khi trừ các khoản chi phí bán hàng. Hàng tồn đọng sau khi bán không phải làm thủ tục hải quan; Hàng tồn đọng không còn giá trị sử dụng, phải tiêu hủy, thực hiện tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Mục 5 - Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu
Dự thảo Luật tại Mục 5 quy định cụ thể về thủ tục hải quan và giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, bao gồm nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu của doanh nghiệp chế xuất, thương nhân gia công cho thương nhân nước ngoài, thương nhân sản xuất hàng xuất khẩu;
Dự thảo cũng quy định cụ thể địa điểm lưu giữ hàng hoá, trách nhiệm của chủ hàng trong việc quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào, đưa vào; thông báo định mức nguyên vật liệu chủ yếu nhập khẩu; thực hiện thanh khoản; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong kiểm tra việc thực hiện các quy định nêu trên. Thay đổi cách thức quản lý hải quan đối với loại hình này theo hướng doanh nghiệp tự thanh khoản và báo cáo kết quả thanh khoản với cơ quan hải quan. Cơ quan hải quan chỉ kiểm tra kết quả thanh khoản trên cơ sở quản lý rủi ro.
Mục 6- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ
Các Điều 46 – 49 Luật Hải quan hiện hành quy định các nội dung liên quan đến kho ngoại quan, kho bảo thuế nhưng chưa quy định cụ thể về điều kiện thành lập và thủ tục hàng hóa ra, vào kho ngoại quan. 
Ngoài ra, thực tế phát sinh nhu cầu cần có các địa điểm để người vận chuyển bàn giao những lô hàng đóng chung container hoặc thu gom hàng lẻ xuất khẩu để đóng chung container, phải giải quyết ở văn bản dưới Luật.
Để minh bạch về thủ tục và tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, Mục 6 Dự thảo sửa đổi, bổ sung những nội dung:
                  - Khái niệm kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ
+ Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi được sử dụng để lưu giữ, bảo quản hoặc thực hiện các dịch vụ đối với hàng hoá từ nước ngoài hoặc từ trong nước đưa vào kho trong thời hạn nhất định. 
+ Kho bảo thuế là kho của chủ hàng dùng để chứa hàng hoá hoặc nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế.
+ Địa điểm thu gom hàng lẻ là khu vực kho, bãi dùng để thực hiện các hoạt động đối với hàng hoá của nhiều chủ hàng hoá được vận chuyển chung trong một container.
            - Dự thảo quy định cụ thể về: hàng hoá được gửi trong kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ; thời hạn lưu giữ hàng hoá trong kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; trách nhiệm của chủ kho, chủ hàng hoá và thương nhân kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ.
Mục 7- Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan
Các Điều 40 – 42 Luật Hải quan hiện hành quy định các chế độ kiểm tra, giám sát riêng biệt đối với hàng hóa quá cảnh, chuyển cửa khẩu. Luật cũng không quy định rõ ràng thủ tục hải quan khi thực hiện vận chuyển loại hàng hóa này mà hiện được quy định ở văn bản dưới Luật. Các văn bản dưới Luật cũng quy định riêng về thủ tục hải quan đối với hàng hóa chuyển cảng; trung chuyển; vận tải đa phương thức.
Về bản chất các trường hợp nêu trên đều là vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan nên thủ tục hải quan và chế độ giám sát đối với các loại hàng hoá này là giống nhau. Công ước Kyoto tại Phụ lục chuyên đề E quy định chung là "quá cảnh hải quan".
Tham khảo quy định tại công ước Kyoto. Để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện và minh bạch trong quy định về thủ tục hải quan, Dự thảo Luật tại mục 7 Chương III quy định thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan. Cụ thể:
Hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan bao gồm: hàng hoá quá cảnh và hàng hoá chuyển cửa khẩu.
Thủ tục hải quan: Khi đăng ký vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan, người khai hải quan khai tờ khai vận chuyển hàng hóa. Nộp hoặc xuất trình các chứng từ khác, xuất trình hàng hóa khi cơ quan hải quan yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Khi thực hiện vận chuyển hàng hóa thuộc đối tượng này, người khai hải quan phải:
+ Chấp hành và tạo điều kiện để cơ quan hải quan thực hiện các biện pháp giám sát hải quan theo quy định của pháp luật.
+ Đảm bảo nguyên trạng hàng hoá và niêm phong hải quan;
+ Sử dụng phương tiện vận chuyển hàng hóa đáp ứng đủ điều kiện để cơ quan hải quan áp dụng các phương tiện kỹ thuật giám sát hàng hóa theo quy định.
+ Đảm bảo hàng hóa được vận chuyển đúng tuyến đường, lộ trình, thời gian đã đăng ký.
            e) Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải
Mục này được xây dựng trên cơ sở kế thừa Luật hiện hành. Tuy nhiên, để đảm bảo tính đầy đủ, minh bạch phù hợp với thông lệ quốc tế, dự thảo sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:
e.1. Về thông báo thông tin trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh (Điều 67)
Luật Hải quan chưa quy định về việc khai báo thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu, hành khách xuất nhập cảnh trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh.
Trên thực tế, cơ quan hải quan cũng như các cơ quan có liên quan tại cảng, sân bay như cảng vụ, biên phòng, công an cửa khẩu rất cần có thông tin về hàng hóa, hành khách trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh để có phương án làm thủ tục cho phù hợp, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập cảnh; vừa bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia. Vì vậy, hiện nay việc tiếp nhận khai báo và thông quan điện tử đối với tàu biển, trong đó có quy định về việc cung cấp trước bản khai hàng hóa và các chứng từ có liên quan đang được thực hiện thí điểm theo Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nội dung nêu trên, Dự án Luật bổ sung 1 điều (Điều 67) về thông báo thông tin trước, trong đó quy định cụ thể về Đối tượng phải thông báo (người vận chuyển): Người vận chuyển phải thông báo thông tin về hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và hành khách nhập cảnh, xuất cảnh trên phương tiện vận tải trước khi nhập cảnh, xuất cảnh cho cơ quan hải quan.
e.2. Về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải (Từ điều 69 đến 75)
Tại các điều từ 69 đến 74 Dự thảo: 
- Phân định rõ thủ tục hải quan đối với: Phương tiện vận tải kinh doanh thương mại và phương tiện vận tải không kinh doanh thương mại (Ví dụ: ô tô cá nhân, du thuyền, …)
- Quy định chi tiết thời hạn khai hải quan đối với phương tiện vận tải đường bộ, đường biển, đường sắt, đường sông, đường hàng không khi xuất cảnh, nhập cảnh để minh bạch về thủ tục.
5. Mục 11. Kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành hải quan
Mục này quy định 02 nội dung:
          5.1 Về kiểm tra sau thông quan (Từ Điều 79 đến Điều 85)
a. Xác định vấn đề bất cập
-  Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hải quan hiện hành, kiểm tra sau thông quan chỉ được thực hiện trong 02 trường hợp: Kiểm tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và kiểm tra trên cơ sở phân tích, thu thập thông tin. Quy định này chưa thể hiện được tính chất của kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra thông thường của cơ quan hải quan nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, đồng thời phát hiện những sai sót của bản thân cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục thông quan, chưa thể hiện được sự kết nối giữa các khâu trước, trong và sau thông quan.
Xuất phát từ việc thay đổi cách thức quản lý hải quan: thông quan chủ yếu trên cơ sở người khai hải quan tự khai và tự chịu trách nhiệm trong việc khai báo của mình, việc thông quan chủ yếu thực hiện bằng phương thức điện tử, đáp ứng yêu cầu thông quan nhanh chóng. Do vậy, cần phải quy định đầy đủ cơ sở pháp lý để tăng cường hoạt động kiểm tra này. 
- Điều 32 Luật Hải quan hiện hành quy định việc kiểm tra sau thông quan được thực hiện khi có quyết định của Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, thành phố hoặc Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan. Luật không quy định rõ thủ tục này áp dụng khi kiểm tra tại cơ quan hải quan hay kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp dẫn đến có sự áp dụng không thống nhất giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác;
Luật Quản lý thuế đã quy định rõ ngoài việc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp còn có kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, việc kiểm tra này được coi là công việc thường xuyên và không phải ra quyết định kiểm tra.
Quá trình thực hiện Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế cho thấy, có 94% tổng số cuộc kiểm tra là kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan và mang lại hiệu quả cao, thủ tục kiểm tra đơn giản, nhanh chóng, giảm chi phí không cần thiết, không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
b. Mục tiêu của quy định về kiểm tra sau thông quan
Đảm bảo mục tiêu của công tác kiểm tra sau thông quan đồng thời hạn chế các chi phí phát sinh và những ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
c. Đánh giá tác động các phương án
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung nội dung kiểm tra sau thông quan tại các điều từ 78 đến 84 quy định về:
  -  Các trường hợp kiểm tra sau thông quan gồm:
+ Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật khác liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.
+ Kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro, thông tin từ trinh sát hải quan, từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
- Địa điểm kiểm tra sau thông quan: được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan và trụ sở của người khai hải quan, chủ hàng.
- Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 10 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.
- Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan: Dự thảo quy định nội dung kiểm tra, cách thức xử lý kết quả kiểm tra. Theo đó, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan, chủ hàng cung cấp hồ sơ, chứng từ liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và giải trình những nội dung liên quan. Trường hợp người khai hải quan, chủ hàng không giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu hoặc giải trình mà không đủ căn cứ chứng minh nội dung đã khai là đúng thì Thủ trưởng cơ quan hải quan ban hành quyết định hành chính hoặc quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng.
Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, chủ hàng: Dự thảo quy định thẩm quyền quyền định kiểm tra là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan, trưởng đoàn kiểm tra sau thông quan. Dự thảo cũng quy định cụ thể thời hạn kiểm tra của mỗi quyết định kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của cơ quan hải quan, trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng; xử lý kết quả kiểm tra.
5.2. Thanh tra về hải quan (Điều 85)
a. Xác định vấn đề bất cập
Quy định tại khoản 8 Điều 73 Luật Hải quan thì Thanh tra là một trong các nội dung quản lý nước về hải quan;
Luật Quản lý thuế quy định một mục (mục 3) về thanh tra thuế trong Chương X quy định về kiểm tra, thanh tra thuế.
Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ đã quy định  Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan là các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành hải quan.
b. Mục tiêu của quy định thanh tra về hải quan
Để xác định vị trí pháp lý của hoạt động thanh tra về hải quan, đảm bảo tính ổn định, lâu dài và qua đó để hoạt động thanh tra trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan.
c. Đánh giá tác động các phương án
Tại Điều 85 Dự án Luật quy định:
- Cơ quan Hải quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về hải quan theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật khác có liên quan.
- Hoạt động thanh tra chuyên ngành về hải quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và các văn bản pháp luật có liên quan.
- Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện thanh tra chuyên ngành về hải quan; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân là đối tượng kiểm tra, thanh tra và tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về thanh tra.
IV. Chương IV. Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
1. Xác định vấn đề bất cập về trị giá hải quan
Điều 71 Luật Hải quan hiện hành quy định trị giá hải quan được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; không quy định nội dung chi tiết mà dẫn chiếu sang Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để thực hiện.
Theo quy định tại điều 9 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì việc xác định giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu nhập khẩu phụ thuộc vào hợp đồng.
Trên thực tế trị giá theo hợp đồng trong một số trường hợp không bao gồm đầy đủ các chi phí phát sinh liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu trong khi đó các chi phí này là bộ phận cấu thành trị giá tính thuế. Ngoài ra, đối với một số trường hợp, có một số chi phí mặc dù nằm trong giá hợp đồng nhưng lại được loại trừ ra khỏi trị giá hợp đồng khi xác định trị giá tính thuế.
          2. Mục tiêu của quy định về trị giá hải quan
          Để phản ánh đúng bản chất của trị giá hải quan và phù hợp với Hiệp định trị giá GATT, tạo thuận lợi cho người nộp thuế xác định chính xác trị giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu
          3. Đánh giá tác động phương án
          Tại Điều 89 dự thảo Luật quy định cụ thể nội dung xác định trị giá hải quan theo hướng bỏ việc xác định trị giá giá hải quan "theo hợp đồng":
- Trị giá hải quan được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế.
- Trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với cam kết quốc tế.
- Tỷ giá tính thuế là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với đồng tiền nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế. Trường hợp tại thời điểm tính thuế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công bố tỷ giá tính thuế thì áp dụng tỷ giá tính thuế của ngày hôm trước liền kề.
V. Chương V. Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
1. Phạm vi trách nhiệm của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Điều 93)
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật Hải quan hiện hành chưa quy định cho phép cơ quan hải quan thực hiện linh hoạt trong việc truy đuổi, bắt giữ hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn dẫn đến nhiều trường hợp hiệu quả thực hiện công tác này chưa cao, do đối tượng chạy ra ngoài địa bàn cơ quan hải quan phải phối hợp với cơ quan chức năng. Trong nhiều trường hợp do việc phối hợp không kịp thời, đã không ngăn chặn được vi phạm.
b. Mục tiêu của quy định về phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Tăng hiệu quả của công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.
c. Đánh giá tác động các phương án
Để khắc phục việc này, tại Điều 93 Dự thảo Luật bổ sung quy định: Trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan mà có dấu hiệu hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì cơ quan hải quan được tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng trên địa bàn biết và phối hợp.
Ngoài ra, để bảo đảm thống nhất với nội dung quy định tại Điều 7 Dự thảo, tại Khoản 1 Điều này bổ sung nội dung:
"Tại vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa vi phạm pháp luật hải quan theo quy định tại Điều 7 Luật này; thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam."
2. Thẩm quyền của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 94)
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật hải quan hiện hành chưa quy định rõ các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan để thực hiện phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Một số hoạt động nghiệp vụ của công tác chống buôn lậu như: trinh sát, xác minh thông tin, điều tra nắm tình hình, tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm buôn lậu….cơ quan hải quan không chỉ thực hiện trong địa bàn hoạt động mà phải thực hiện cả ngoài phạm vi này nhưng đang bị giới hạn bởi quy định trong Luật hiện hành hiện đang thực hiện ở văn bản dưới Luật. 
b. Mục tiêu của quy định về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Quy định rõ các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan để thực hiện phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
c. Đánh giá tác động các phương án
Do vậy, tại điều 94 dự thảo Luật quy định rõ:
- Các biện pháp nghiệp vụ cụ thể của cơ quan hải quan được thực hiện để phòng, chống buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới như: Tuần tra hải quan, điều tra nghiên cứu nắm tình hình, tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trưng cầu giám định tài liệu, hàng hoá, tang vật vi phạm để làm căn cứ xử lý, sử dụng cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi hoặc loa ra hiệu lệnh cho người, phương tiện vận tải có dấu hiệu vi phạm dừng lại để kiểm tra, khám xét trong địa bàn hoạt động hải quan...
3. Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan
a. Xác định vấn đề bất cập
Luật hiện hành chủ yếu xác định về trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; theo đó, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan được quy định trong Luật còn thiếu và quy định chung chung. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhận thấy: nhiệm vụ phòng chống buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới do cơ quan hải quan thực hiện (trong địa bàn) nếu không có sự hỗ trợ, phối hợp kịp thời, chủ động và tích cực của các tổ chức, cá nhân thì hiệu quả thực hiện nhiệm vụ này của cơ quan hải quan còn nhiều hạn chế.
b. Mục tiêu của quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan
Tăng cường hiệu quả của công tác phối hợp với các tổ chức, cá nhân trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
c. Đánh giá tác động các phương án
Do vậy, dự thảo Luật đã bổ sung vào Điều 96 để quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.
VI. Chương VI. Thông tin hải quan và thống kê hải quan
1. Mục 1. Thông tin hải quan (từ Điều 97 đến Điều 101)
a. Xác định vấn đề bất cập
Để phục vụ các hoạt động nghiệp vụ hải quan, áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; cơ quan hải quan thường xuyên thu thập, xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, phân tích đánh giá và sử dụng thông tin ... Luật hiện hành chưa quy định về nội dung này.
 b. Mục tiêu của quy định về thông tin hải quan
Nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý trong việc thu thập thông tin hải quan ở trong nước và nước ngoài, mục đích sử dụng thông tin hải quan, cách thức thu thập, xử lý thông tin hải quan, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc thu thập, xử lý và ứng dụng thông tin hải quan, bảo vệ bí mật thông tin hải quan, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin hải quan.
c. Đánh giá tác động các phương án
Tại các Điều 97 đến Điều 101 Dự thảo Luật bổ sung các quy định về thông tin hải quan[U3] , bao gồm các nội dung chính sau:
 - Thông tin hải quan là những thông tin, dữ liệu về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các thông tin khác liên quan hoạt động hải quan.
- Thông tin hải quan được thu thập, lưu trữ, quản lý, ứng dụng để phục vụ thủ tục hải quan; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; kiểm tra sau thông quan; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hoạt động nghiệp vụ hải quan khác.
- Cơ quan hải quan xây dựng, quản lý hệ thống thông tin hải quan bao gồm:
+ Thông tin liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
+ Thông tin liên quan đến phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
+ Thông tin liên quan đến tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
+ Các thông tin khác liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan.
- Hệ thống thông tin hải quan được quản lý tập trung trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu ở trong ngành Hải quan; kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài ngành Hải quan, của Hải quan các nước và Tổ chức quốc tế trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật.
- Nghiêm cấm hành vi truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan.
            - Cơ quan Hải quan tổ chức thu thập thông tin từ các nguồn:
            + Quá trình thực hiện thủ tục hải quan;
            + Các hoạt động nghiệp vụ hải quan;
            + Các Bộ, ngành có liên quan và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các Bộ, ngành có liên quan;
            + Các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
            + Phương tiện thông tin đại chúng;
            + Người cung cấp thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hoặc thông tin về vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực hoạt động này;
            + Các nguồn thông tin khác.
            - Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc thu thập, cung cấp thông tin hải quan ở trong nước:
            + Tiếp nhận, cung cấp thông tin cho người khai hải quan theo quy định của pháp luật;
            + Xây dựng, thực hiện các cơ chế phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin với các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các Bộ, ngành liên quan;
            + Áp dụng các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ để thu thập thông tin theo quy định của pháp luật;
            + Sử dụng kinh phí cho người cung cấp thông tin;
            + Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
            + Khai thác các nguồn thông tin trên phương tiên thông tin đại chúng và các nguồn thông tin khác có liên quan.
- Quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin hải quan
+ Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan cung cấp các thông tin hải quan có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phù hợp với quy định của Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
+ Các cơ quan chức năng thuộc các Bộ, ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cho cơ quan Hải quan để phục vụ quản lý nhà nước về hải quan.
+ Các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan hải quan theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
          - Cơ quan hải quan tổ chức thu thập thông tin ở nước ngoài để phục vụ quản lý nhà nước về hải quan, bao gồm:
            + Xác định xuất xứ, trị giá giao dịch, tiêu chuẩn, phẩm cấp của hàng hóa nhập khẩu;
            + Xác định tính hợp pháp của các chứng từ giao dịch liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
            + Xác minh về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới hoặc các vi phạm pháp luật khác về hải quan;
         + Xác minh các thông tin khác liên quan đến người tham gia hoặc liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
            - Nguồn thông tin hải quan được thu thập ở nước ngoài bao gồm:
            + Thông tin do cơ quan hải quan, các cơ quan quản lý khác của nhà nước và vùng lãnh thổ cung cấp theo hiệp định hợp tác hỗ trợ trao đổi, cung cấp thông tin giữa các quốc gia;
         + Thông tin do các tổ chức thực thi pháp luật quốc tế và các tổ chức quốc tế khác có liên quan cung cấp theo các hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận tham gia;
Thông tin của nhà sản xuất hàng hóa, người xuất khẩu, nhập khẩu cung cấp theo đề nghị của cơ quan hải quan hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận tham gia;
+ Thông tin của người cung cấp dịch vụ thông tin ở nước ngoài;
          + Thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên các phương tiện thông tin đại chúng;
            + Các thông tin khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
           Các thông tin có xác nhận của người cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật nhà nước sở tại có giá trị chứng minh, làm căn cứ cho việc ấn định thuế và xử lý các vi phạm pháp luật về hải quan.
            - Cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp, kỹ thuật bảo mật thông tin hải quan, ngăn ngừa các hành động truy cập trái phép vào hệ thống thông tin hải quan.
2. Mục 2. Thống kê hải quan (Điều 102 và Điều 103)
a. Xác định vấn đề bất cập
Điều 11 Luật Hải quan quy định một trong các nhiệm vụ của hải quan là “Thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”nhưng không quy định cụ thể nội dung nhiệm vụ này.
Các thông tin, số liệu thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của ngành Hải quan trong những năm qua và hiện nay đã góp phần quan trọng để xây dựng các chính sách về thuế quan, bình ổn giá một số mặt hàng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, phục vụ hoạch định, quản lý điều hành và đánh giá tác động các chính sách thương mại, các thông tin phục vụ hoạt động quản lý cạnh tranh.
b. Mục tiêu của quy định về thống kê hải quan
Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
c. Đánh giá tác động các phương án
Dự thảo Luật bổ sung nội dung này vào mục 2 Chương VI để quy định về: Hoạt động thống kê hàng hoá xuất khẩu nhập khẩu,báo cáo thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
            - Hoạt động thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, dự báo, báo cáo, phổ biến, lưu trữ thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện.
            - Thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là sản phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm số liệu thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và bản phân tích số liệu thống kê đó.
Phần VII. Kết luận
Trong quá trình xây dựng Báo cáo đánh giá tác động Luật Hải quan, Chính phủ đã tổ chức cuộc họp với các Bộ ngành, họp với chuyên gia, hội thảo lấy ý kiến các cá nhân, tổ chức, đơn vị chịu tác động của Luật Hải quan.
Trên cơ sở các ý kiến tham vấn, kết hợp với tham khảo kết quả nghiên cứu của Tổ chức quốc tế, kinh nghiệm quốc tế về các vấn đề liên quan, chuẩn hóa thủ tục hải quan theo cam kết quốc tế, Chính phủ đã tổng hợp và hoàn thành Báo cáo đánh giá tác động này.
Quá trình nghiên cứu, tổng hợp, tham vấn kinh nghiệm lập Báo cáo đánh giá cho thấy Luật Hải quan là phương án cần thiết để đạt được các mục tiêu: thực hiện quy định tại Nghị quyết số 57/2010/QH12 ngày 26/11/2010 của Quốc hội về kết quả giám sát việc cải cách thủ tục hành chính; được cụ thể hoá tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 và Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ; đảm bảo phù hợp với các văn bản pháp luật có liên quan khác; phục vụ cho thực hiện mục tiêu cải cách, hiện đại hoá hệ thống hải quan theo chiến lược cải cách, hiện đại hóa ngành hải quan giai đoạn 2011-2020; phù hợp thông lệ quốc tế, chủ động hội nhập. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người khai hải quan, người nộp thuế giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho người khai hải quan, người nộp thuế và cho cả cơ quan hải quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước nói chung, đảm bảo công bằng, minh bạch trong thực thi pháp luật hải quan.
Để đạt mục tiêu trên, Chính phủ sẽ tích cực, chủ động triển khai thực hiện các chương trình hành động theo kế hoạch cải cách hệ thống thủ tục hải quan, thực hiện công khai, minh bạch các thủ tục hành chính nhằm tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật hải quan./.
 
                  BỘ TÀI CHÍNH

 Câu hỏi tham vấn các đối tượng liên quan
Câu hỏi tham vấn chung
1- Dự thảo Luật đã đề xuất giải quyết những vấn đề bất cập đang tồn tại chưa? Nếu chưa, theo ông/bà còn những vấn đề nào khác cần phải giải quyết và giải quyết như thế nào?
2- Các phương án đã đề xuất nhằm giải quyết các vấn đề bất cập được nhóm soạn thảo xác định đã phù hợp chưa? Nếu chưa, đề nghị cung cấp thêm các phương án khác.
3- Các dữ liệu và giả định trong phần phân tích chi phí và lợi ích có hợp lý không? Nếu không, đề nghị đưa ra đề xuất sửa đổi.
4- Ông/bà có ý kiến và thông tin hữu ích nào nhằm cải thiện dự thảo Luật hoặc báo cáo đánh giá tác động không ? Nếu có, xin đề nghị cung cấp.
5- Có tác động tiêu cực nào của đề xuất dự thảo chưa được cán bộ soạn thảo xem xét không? Nếu có, đề nghị cung cấp thông tin và bằng chứng về các tác động tiêu cực này.

Nguồn tin: Cổng thông tin Bộ Tài Chính

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: hải quan

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

DỊCH VỤ HẢI QUAN

TIỆN ÍCH

Danh bạ ĐT

Thư viện ảnh

Phóng sự

Tài liệu

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

Đường dây nóng
Name: Tổng đài TCHQ
------------------------------------------
Người phát ngôn

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 7

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1952952

linh tây tower